Những biến động gần đây ở Campuchia cho chúng ta nhiều bài học trong việc thiết kế chiến lược quan hệ ngoại giao của mình. Khi Campuchia là nước giữ vai trò chủ tịch ASEAN năm 2012, họ đã loại bỏ toàn bộ những vấn đề quan trọng với Việt Nam ra khỏi chương trình nghị sự, đó là biển Đông va quy tắc ứng xử COC giữa ASEAN và Trung Quốc. Campuchia làm điều này vì lợi ích dân tộc quốc gia của họ. Họ nghĩ Trung Quốc là siêu cường mới nổi, và quan hệ tốt với Trung Quốc đem lại nhiều lợi ích cho họ, hơn lợi ích họ có từ Việt Nam. Chính vì vậy, ngay thủ tướng Hun Sen, người có rất nhiều kết nối với Việt Nam, vẫn bẻ lái con tàu Campuchia về phía Trung Quốc.

Ảnh: thủ tướng Hun Sen người đã bẻ lái con tàu Campuchia về phía Trung Quốc (nguồn: internet)


Trong cuộc bầu cử vừa rồi, lãnh đạo đảng đối lập CNRP của Campuchia đã dùng Việt Nam như một con bài để thu hút phiếu bầu. Ông Sam Rainsy có những thành kiến với Việt Nam, luôn kết tội Việt Nam (và Thái Lan) muốn thôn tính Campuchia. Sam Rainsy cũng hiểu rằng, vì Trung Quốc có ảnh hưởng quá nhiều đến chính trường Campuchia, nên để có thể “lật” Hun Sen và đảng CPP, họ cần có sự ủng hộ của Trung Quốc. Vì vậy, Sam Rainsy đã không ngần ngại tuyên bố “tất cả các đảo mà Trung Quốc đang tranh chấp ở Biển Đông đều thuộc Trung Quốc”. Ông Sam Rainsy hy vọng, với tuyên bố này, ít nhất ông không bị người Trung Quốc ngăn cản trên con đường đến văn phòng thủ tướng Campuchia.

Chúng ta thấy, quan hệ ngoại giao của từng nước bị ảnh hưởng bởi lợi ích quốc gia, hay chí ít cũng vì lợi ích của Đảng phái chính trị. Một quốc gia tỉnh táo, không dựa vào quá khứ, một tư tưởng, hay tình bạn cũ để hành động. Điều này không phải họ “bạc tình” hay “phản bội”, mà đơn giản là thế giới đã thay đổi, và các quốc gia đã thay đổi. Lãnh đạo bây giờ, quốc gia bây giờ đã khác lãnh đạo ngày xưa, quốc gia ngày xưa. Điều duy nhất còn lại là lợi ích dân tộc. Chính vì vậy, tuy có cùng những đau thương thời chiến tranh, nhưng sự chia sẻ lịch sử cũng chỉ là thứ yếu trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển quốc gia ngày nay của Campuchia.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam, chúng ta cũng thấy khi nào lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu, là khi chúng ta có những quyết sách sáng suốt, đúng không những cho thời điểm đó, mà cho đến những ngày sau.

Trong những năm đổi mới, để phá bỏ thế cô lập vì bị Mỹ và đồng minh cấm vận, chúng ta đã áp dụng triết lý “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”. Việt Nam muốn bình thường hóa quan hệ với những “cựu thù” như Mỹ và Châu Âu, nhưng vẫn duy trì quan hệ với các nước “đồng minh” như Trung Quốc, Cu Ba và Triều Tiên. Chiến lược này là hiểu được trong thời gian mở cửa, vì nó đảm bảo một sự chuyển giao cho Việt Nam, hòa nhập nhưng không “mất điểm tựa”. Đặc biệt, khi các nước “đồng minh” trong thời chiến tranh, cũng là những nước láng giềng của mình như Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Việc chuyển đổi và hội nhập của Việt Nam hợp với quá trình toàn cầu hóa và dân chủ hóa. Là một phần của sự dịch chuyển của lịch sử, của hiện tại và tương lai. Khi mở cửa, Việt Nam đã đón nhận được các nguồn vốn, công nghệ và văn hóa mới từ thế giới; đã giải phóng được một số nguồn lực tiềm tàng của dân tộc, tạo ra bước nhảy từ một nước nghèo đói, bị cô lập, lên một nước cởi mở hơn, và có thu nhập trung bình. Quyết định này dựa trên một quy luật được đúc kết bởi thủ tướng Anh Winston Churchill “không có bạn bè hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”.

Hiện nay, Việt Nam lại đứng trước một bước ngoặt mới do sự thay đổi của thế giới mang lại. Để có được quyết định đúng, chúng ta phải vượt lên quá khứ, lịch sử, hay tư tưởng để nhìn ra lợi ích của dân tộc. Chúng ta cần nhìn rộng ra toàn cầu để định vị Việt Nam. Có lẽ chúng ta cần một quá trình hội nhập thứ hai với khẩu hiệu “Việt Nam muốn chia sẻ các giá trị toàn cầu”.

Trong lần hội nhập thứ nhất, chúng ta muốn làm ăn với tất cả các nước, nên đã định hướng những cải tổ về thể chế kinh tế, nhằm bôi trơn quá trình hợp tác quốc tế. Trong lần hội nhập thứ hai này, chúng ta cần dựa trên các giá trị toàn cầu để định hướng, và như vậy chúng ta cần những cuộc cải cách tư tưởng để Việt Nam tương thích với thế giới. Các giá trị dân chủ, nhân quyền, tự do, và minh bạch chắc chắn một lần nữa sẽ tạo bệ phóng để Việt Nam nhảy vọt, thoát khỏi vũng lầy hiện tại, những bối rối trong việc cải cách kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Để bắt đầu, Việt Nam chỉ cần ra Luật về hội, để người dân tự do tụ họp, chia sẻ khó khăn, trao đổi sáng kiến và làm quen với cuộc sống của xã hội dân sự dân chủ. Cùng với tự do báo chí, tự do thông tin, Việt Nam tiến dần đến một xã hội dân chủ, và một nền kinh tế tri thức.

Khi chúng ta chia sẻ các giá trị toàn cầu, chúng ta sẽ có sự ủng hộ của thế giới. Các mối quan hệ với Châu Âu, Mỹ, Canada, Úc, Nhật, Hàn Quốc, ASEAN sẽ nâng lên một bước. Nó tạo ra một nền tảng vững chắc, để chúng ta tiếp tục duy trì quan hệ với các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào và Campuchia. Và chắc chắn, những giá trị dân chủ, tự do và bình đẳng chính là nền tảng cho chúng ta thành công trong công cuộc hội nhập lần hai, cũng giống như kinh tế thị trường đã giúp ta thành công trong hội nhập lần một!