Cú quỵ ngã của kinh tế Việt Nam vào cuối năm 2008 đầu năm 2009 khi tỉ lệ tăng trưởng GDP tụt xuống khoảng 3% đã mở đầu cho một thời kỳ èo uột của nền kinh tế. Tỉ lệ tăng GDP luôn ở mức chông chênh trên dưới 5% đã cho thấy nguyên nhân cốt lõi của khủng hoảng kinh tế không phải do suy thoái kinh tế thế giới mang lại, mà do những nút thắt nội tại gây ra. Nếu tiếp tục làm ngơ, Việt Nam nhanh chóng tụt lại phía sau không những về thu nhập kinh tế, mà cả về các chỉ số giáo dục, y tế, môi trường và dân chủ tự do so với các nước trong ASEAN, ngay cả với Cambodia, Lào và Myanmar.

Ảnh: cựu bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển liên tục kêu gọi thừa nhận xã hội dân sự (nguồn: internet)
Ảnh: cựu bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển liên tục kêu gọi thừa nhận xã hội dân sự (nguồn: internet)


Thời gian gần đây chính phủ phát ra thông điệp “cải cách thể chế kinh tế” theo hướng đẩy nền kinh tế Việt Nam theo hướng kinh tế thị trường. Nói ngắn gọn, Việt Nam cần cải thiện việc phân bổ nguồn lực theo hướng sử dụng hiệu quả nhất, chứ không phải theo hướng có lợi nhất cho các nhóm lợi ích có quyền lực trong xã hội. Nếu không, với nền kinh tế thị trường méo mó thì những người yếu thế sẽ là người thiệt thòi nhất, còn các nhóm lợi ích sẽ là được lợi nhất.

Hiện tại, các nút thắt chủ yếu là do một hệ thống luật pháp hay thay đổi, không ổn định, không minh bạch, không tiên đoán được làm cho rủi ro đầu tư và kinh doanh ở Việt Nam cao. Nhiều văn bản pháp luật, đặc biệt ở cấp thông tư không hợp hiến, không hợp pháp nhưng không có cơ quan giám sát độc lập xử lý. Khu vực kinh tế nhà nước lạc hậu, quản lý kém, và lãng phí nguồn lực không những giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế, mà còn gây ra các sai lệch, méo mó thị trường. Quyền kinh doanh không được bảo vệ đầy đủ dẫn đến khó khăn cho doanh nhân đầu tư và cạnh tranh bình đẳng, công bằng. Tất cả những nút thắt này tạo ra một nền kinh tế tăng trưởng chậm, tham nhũng và lãng phí nguồn lực.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra làm sao có thể cải cách thể chế kinh tế để tháo những nút thắt này? Dựa vào ý chí chính trị của nhà nước hay sức ép của doanh nghiệp? Dường như cả hai đều không đủ.

Đối với nhà nước, hệ thống pháp luật mập mờ, khó đoán tạo ra quyền lực diễn giải cho cơ quan công quyền. Điều này đồng nghĩa với những lợi ích họ có được trong việc điều hành nền kinh tế. Chẳng con người nào tự nguyện từ bỏ quyền lực và lợi ích nếu không bị bắt buộc. Đối với doanh nghiệp, họ ở trong một thế yếu với nhà nước. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân có quan hệ với quan chức, đều không có ý đứng lên đòi cải cách vì họ đang hưởng lợi từ môi trường hiện tại. Lực lượng doanh nghiệp tư nhân đa số là nhỏ, không có tiếng nói lớn vì họ đơn độc và không có nghiệp đoàn đại diện bảo vệ quyền lợi của mình nên khó gây được sức ép để cải cách.

Nếu tình trạng hiện tại được duy trì thì nền kinh tế Việt Nam tiếp tục trì trệ. Nợ công, nợ nước ngoài tiếp tục chồng chất đè thêm gánh nặng cho các thế hệ tương lai. Sự phân hóa xã hội sẽ càng sâu sắc dẫn đến xung đột gay gắt. Đội ngũ công quyền sẽ dần dần xa lánh quần chúng, bảo vệ lợi ích của nhóm cầm quyền, giàu có vì lợi ích của họ cũng gắn với nhóm này.

Như vậy, để cải cách thể chế kinh tế thành công cần phải cái cách thể chế dân sự. Nói cách khác, cần phải có một xã hội dân sự vững mạnh thực sự hoạt động để giám sát nhà nước và doanh nghiệp. Một xã hội dân sự mạnh để đại diện tốt hơn cho những người yếu thế, cho quảng đại quần chúng trong việc phản biện và góp ý cho nhà nước. Nếu không có họ gây sức ép chính trị thì nhà nước cũng không có động lực để cải cách theo hướng thị trường, minh bạch và công bằng.

Việt Nam cần làm việc này càng sớm càng tốt. Giống như cựu bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển đã nói, chúng ta càng để lâu thì càng thiệt. Việc nhận thức sớm về sự cần thiết của xã hội dân sự cũng giống như sự nhận biết sớm về vai trò của thị trường. Nếu chúng ta không nhanh thay đổi thì hậu quả ngày càng rộng lớn, và thiệt hại sẽ càng khó khắc phục.

Như vậy, cải cách thể chế thị trường không thể nhìn hẹp, mà cần phải gắn liền với sự phát triển của xã hội dân sự cũng như một nhà nước pháp quyền. Đây chính là điều kiện cần và đủ để cải cách thành công.