Sự đa dạng về văn hóa tộc người thể hiện ở sự đa dạng về ngôn ngữ, niềm tin, tri thức địa phương, về giá trị, đạo đức, nghệ thuật, phong tục, truyền thống, phương thức làm ăn, sinh kế, vv. Trong tất cả các khía cạnh đa dạng đó của văn hóa, có thể nói tri thức địa phương là nền tảng cơ bản – nguồn nuôi dưỡng cho sự phong phú và sức sống của một nền văn hóa. Bản thân tri thức địa phương đã bao hàm trong đó cả niềm tin, nhận thức của con người về xã hội, chứa đựng những giá trị truyền thống.

Ảnh: Người Vân Kiểu có cách chữa bệnh bằng "thổi" - dùng cả thuốc nam và yếu tố tâm lý (nguồn: Văn Hóa Của Mình)


Tri thức địa phương, tri thức bản địa, hay tri thức truyền thống theo định nghĩa của Ủy ban quốc tế của các Hiệp hội Khoa học là “Một khối tích lũy các kiến thức, hiểu biết, các tập quán và các cách diễn đạt được duy trì và phát triển bởi những con người có lịch sử lâu dài trong tương tác với môi trường tự nhiên. Những cách hiểu, lý giải và các ý nghĩa tinh tế này là một phần của một phức hệ văn hóa bao gồm ngôn ngữ, tên gọi và các hệ thống phân loại, các thói quen sử dụng tài nguyên, lễ nghi, tín ngưỡng và thế giới quan, vv. Tri thức truyền thống tạo cơ sở cho việc ra quyết định của người địa phương về nhiều khía cạnh cơ bản của cuộc sống hàng ngày: săn bắn, đánh cá, hái lượm, nông nghiệp và chăn nuôi, chuẩn bị thức ăn, bảo tồn và phân phối thức ăn, xác định vị trí, lấy nước và dự trữ nước, đấu tranh chống lại bệnh tật và thương vong, giải quyết các hiện tượng thời tiết và khí tượng, sản xuất các nông cụ và quần áo, xây dựng và bảo dưỡng nhà ở, định hướng và đi lại trên đất liền và biển, quản lý các mối quan hệ sinh thái của xã hội và tự nhiên, thích nghi với các môi trường và xã hội, vv (trích lại từ McElwee 2010:2).

Trong một công trình nghiên cứu tổng hợp về tri thức bản địa, hai nhà nhân học Roy Ellen và Holly Harris (2000: 4-5) đã liệt kê các đặc tính quan trọng và phổ biến nhất của tri thức địa phương như sau:

1) Tri thức địa phương mang tính địa phương: loại tri thức này có cội rễ từ một địa điểm và một hệ các trải nghiệm cụ thể, và nó được tích lũy bởi những con người sinh sống tại địa điểm đó. Kết quả tất yếu của đặc tính này là nếu chuyển loại tri thức này sang địa điểm khác thì nguy cơ rủi ro cao vì nó sẽ làm mất cội rễ của loại tri thức này.

2) Tri thức địa phương được lưu truyền bằng miệng hay truyền lại thông qua sự bắt chước và thể hiện. Vì vậy, việc ghi chép lại tri thức này sẽ làm mất một số thuộc tính quan trọng của nó. Ghi chép lại cũng sẽ làm mất đi cội rễ của nó.

3) Tri thức địa phương là kết quả của sự gắn kết thực tế trong cuộc sống hàng ngày và được củng cố thường xuyên bởi các thực nghiêm mang tính kinh nghiệm, “thử và sai” và cẩn trọng. Kinh nghiệm này là sản phẩm của sự tính toán khôn ngoan của nhiều hệ cộng lại và vì sự thất bại sẽ mang lại hậu quả quả ngay tức thì cho cuộc sống của người thực hành nên sự thành công thường là một sự đo lường cho quy luật đào thải của Darwin.

4) Tri thức địa phương là loại tri thức thực nghiệm hơn là tri thức lý thuyết.

5) Sự lặp lại là một trong những đặc tính của truyền thống, ngay cả khi tri thức mới được thêm vào. Sự lặp lại sẽ giúp cho việc duy trì và củng cố ý tưởng.

6) Truyền thống là một khái niệm mềm và chuyển đổi mà không có điểm kết thúc, và thương thảo là một khái niệm trung tâm. Vì vậy, tri thức địa phương luôn thay đổi, được sản sinh và tái sản sinh, được phát hiện và bị mất đi, mặc dù loại tri thức này thường được cho là tĩnh.

7) Tri thức địa phương được chia sẻ rộng hơn các loại tri thức khác. Vì thế nó còn được gọi là ‘khoa học cộng đồng’. Tuy nhiên, sự phân bổ vẫn còn mang tính bộ phận, tức là có sự khác biệt về mặt xã hội. Nó được phân bổ trong một cộng đồng theo giới, lứa tuổi một cách không hệ thống và được lưu giữ thông qua hồi ức của các cá nhân khác nhau.

8) Mặc dù tri thức địa phương được tập trung vào các cá nhân cụ thể và có thể có được một mức độ gắn kết trong nghi lễ hay cấu trúc biểu tượng khác, song sự phân bổ của nó luôn không hệ thống; nó không tồn tại một cách hoàn chỉnh ở một nơi và ở một cá nhân nhất định nào. Thực tế, nó không xuất phát từ một cá nhân nào mà từ các thực hành và tương tác trong đó con người tham gia.

9) Tri thức bản địa mang tính tổng thể, là bộ phận không tách rời của các truyền thống văn hóa rộng lớn hơn. Vì vậy, tách rời phần kỹ thuật ra khỏi phần phi kỹ thuật, phần duy lý ra khỏi phần phi lý sẽ là một vấn đề lớn”.

Theo Pamela (2010:18), các nhà nghiên cứu Việt Nam thường chỉ quan tâm đến “việc phân loại hoặc liệt kê danh mục và những phương pháp này không nhận ra được sự đa dạng và tính tổng thể của tri thức địa phương”. Như một hậu quả, việc bảo tồn tri thức địa phương tập trung vào “giữ cây hơn là giữ rừng”. Ví dụ, liên quan đến tri thức địa phương trong bảo vệ rừng, các nhà nghiên cứu chỉ quan tâm đến phần kỹ thuật nhận biết cây và tác dụng của nó hơn là phần tâm linh. Nhưng với cộng đồng địa phương, họ tin trong rừng thiêng có các vị thần trú ngụ, vì vậy, bảo vệ cây là bảo vệ các vị thần, chặt cây sẽ bị các vị thần trừng phạt. Nếu chỉ quan tâm đến phần kỹ thuật, xóa bỏ phần tâm linh vì cho là “mê tín dị đoan” sẽ làm khô cứng và thui chột tri thức địa phương.

Như vậy, những tri thức địa phương trên thực tế đã bao hàm tất cả những khía cạnh khác nhau trong đời sống con người, kể cả đời sống tâm linh, không gian văn hóa và thực hành văn hóa. Bảo tồn tri thức địa phương chính là bảo tồn những điều kiện và cơ sở cho sự tồn tại một cách bền vững của tộc người, và cần một cách tiếp cận tổng thể.