Canh tác nương rẫy là một mô hình sản xuất nông nghiệp phổ biến của các tộc người thiểu số ở Việt Nam cũng như ở khu vực Đông Nam Á. Giống như ở nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Phi Líp Pin và Lào, ở Việt Nam, mô hình nông nghiệp này thường bị dán cho nhiều nhãn tiêu cực. Canh tác nương rẫy thường bị đánh giá là không kinh tế trong so sánh với mô hình canh tác lúa nước. Kỹ thuật phát đốt bị coi là hoạt động gây ảnh hưởng đến môi trường. Thêm vào đó, các cư dân canh tác nương rẫy thường được nhìn nhận là những cộng đồng ‘du canh du cư’, ‘nay đây mai đó’, xã hội không ổn định. Thậm chí, nhiều người còn coi canh tác nương rẫy như là một trong những ‘tàn dư’ của loại hình kinh tế ‘nguyên thuỷ’ nhất của loài người

Ảnh: nương rẫy là hình thức canh tác phổ biến của người sống ở miền núi (nguồn: Văn hóa của mình)
Ảnh: nương rẫy là hình thức canh tác phổ biến của người sống ở miền núi (nguồn: Văn hóa của mình)


Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ quy trình kỹ thuật và các đặc trưng cơ bản của hình thức canh tác này, nương rẫy có thể được coi là một trong những loại hình nông nghiệp giúp con người thích ứng nhất với điều kiện tự nhiên miền núi, đưa lại hiệu quả kinh tế cao và ít ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên. Thông thường, trên một mảnh nương, ngoài loại cây trồng chính là lúa hay ngô, người dân còn trồng hàng chục loại rau, củ quả như đậu, bí, ớt, khoai môn, đu đủ, các loại cây thuốc nam, vv... Xét ở khía cạnh kinh tế, kỹ thuật đa canh đem lại cho người nông dân nhiều sản phẩm, đảm bảo cho cuộc sống tự cấp, tự túc của người dân. Đa canh và xen canh cũng tạo ra khả năng chống xói mòn và bảo vệ đa dạng sinh học.

Cũng theo các nhà nông học như Đào Thế Tuấn và Lê Trọng Cúc, nếu xét trên khía cạnh chi phí sức lao động, canh tác nương rẫy đạt hiệu quả cao hơn so với làm ruộng nước. Theo phân tích của các nhà nông học một số giống cây trồng có tác dụng nhất định trong việc giữ độ ẩm, chống rửa trôi hoặc tăng thêm độ phì cho đất. Ví dụ, người Ra-glai ở Ninh Thuận, sau khi phát quang, người dân “Trồng bí trước. Bao giờ dây bí bắt đầu bò rồi mới trỉa bắp thì không sợ hạt bị trôi. Trồng đậu chắt nước, đậu ván xen với bắp thì lá đậu rụng xuống sẽ làm cho đất tốt hơn” (Nữ, Ra-glai, Bác Ái, Ninh Thuận).

Một đặc điểm quan trọng khác của canh tác nương rẫy là phương thức du canh luân khoảnh theo chu kỳ khép kín hay còn được gọi phổ biến là hưu canh. Theo tập quán, khi một mảnh nương bắt đầu bạc màu, người dân sẽ bỏ hoá nó trong một khoảng thời gian từ 5 đến 10 năm và chuyển sang canh tác ở các khu vực khác thuộc ranh giới của cộng đồng.

Trước đây, ở người Gia-rai hay Xơ-đăng, khi đất còn rộng, người dân sẽ bỏ hoá mảnh nương chỉ sau một vụ canh tác. Đối với nhiều tộc người thiểu số ở phía Bắc, một mảnh đất được coi là bạc màu khi nó được canh tác từ 3-5 năm. Các mảnh nương cũ, sau thời kỳ bỏ hoá để rừng tái sinh và đất màu mỡ trở lại, sẽ được đưa vào canh tác nhằm thay thế cho các mảnh nương khác đã bạc màu. Trong bối cảnh tự nhiên của vùng khí hậu nhiệt đới như Việt Nam nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung, kỹ thuật hưu canh như vậy không để lại nhiều tác động tiêu cực cho môi trường sinh thái tự nhiên. Hưu canh, thêm vào đó, tạo điều kiện cho người dân có thể định cư ở một địa điểm lâu dài.

Những hiểu lầm hay đánh giá sai lệch về các giá trị kinh tế - xã hội và môi trường của thực hành canh tác nương rẫy như chúng ta vừa thấy xuất phát chính từ cách nhìn phiến diện và so sánh khập khiễng giữa mô hình canh tác ruộng nước của cư dân ở đồng bằng và thung lũng với mô hình nông nghiệp của cư dân miền núi. Việc đánh giá, nhìn nhận xuất phát từ sự so sánh không phù hợp này đã làm mất đi cơ hội tìm hiểu sâu và đầy đủ về một thực hành sinh kế có tính thích ứng cao trong bối cảnh tự nhiên, xã hội cụ thể của nó.