Theo báo cáo của Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), châu Á dẫn đầu về nhập khẩu vũ khí trong những năm gần đây. Điều này dường như trái với tuyên bố “trỗi dậy hòa bình” của Bắc Kinh, “hướng về châu Á” của New Deli, hoặc “là bạn của tất cả các nước” của Hà Nội. Tại sao sự tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng trong những thập kỷ qua không làm giảm nhu cầu vũ khí, mà lại khuấy lên cuộc chạy đua giữa các nước châu Á?

Ảnh: thế đứng trên dây không bao giờ vững (nguồn: internet)


Quan hệ quốc tế được hình thành trên cơ sở cân bằng quyền lực giữa các quốc gia, dù là thời bình hay thời chiến. Trong một thế giới khó đoán, hầu như các quốc gia đều quan tâm đến tính tự chủ và sự tồn tại của mình. An ninh là ưu tiên hàng đầu, vì thế họ luôn phải cân bằng với những mối đe dọa hiển nhiên hay tiềm tàng. Sự cân bằng quyền lực này thường được giải thích bằng một quy luật đơn giản: một quốc gia nhìn sự tăng năng lực phòng thủ hoặc tấn công của một quốc gia khác như mối đe dọa an ninh cho mình. Như là một phản ứng bản năng, họ sẽ cân bằng lại mối đe dọa bằng cách mua thêm vũ khí,  thiết lập và củng cố quan hệ đồng minh với các nước khác. 

Việc này thể hiện rất rõ trong bối cảnh châu Á khi Trung Quốc nổi lên như một siêu cường mới. Diễn ngôn “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc đã bị bóc trần khi ngân sách quốc phòng của họ ngày càng lớn cho cả năng lực phòng thủ và tấn công. Cộng với sự đối đầu với Nhật Bản ở quần đảo Senkaku, Việt Nam và Philippine ở Biển Đông, và Ấn Độ ở biên giới trên cạn làm cho cả thể giới thức tỉnh. Như một lẽ tự nhiên, các quốc gia láng giềng của Trung Quốc tự đi tìm giải pháp an ninh cho mình.

Tuy cũng là một nước lớn, Ấn Độ đã tăng cường mua sắm vũ khí, và có những dấu hiệu thân thiện với Mỹ và Nhật Bản như là đối trọng với Trung Quốc. Nhật Bản và Hàn Quốc đã từng mong muốn độc lập hơn trong quan hệ với Mỹ vì có lợi ích kinh tế to lớn với Trung Quốc. Nhưng các cuộc biểu tình bài Nhật khi tranh chấp xảy ra, hay sự làm ngơ của Trung Quốc khi Triều Tiên đánh đắm tàu Cheanon và thử vũ khí hạt nhân đã làm hai nước này quay lại thắt chặt quan hệ với Mỹ. Singapore, Úc và Phillipines hiểu rằng họ cần Mỹ hơn bao giờ hết vì rõ ràng chủ nghĩa bá quyền là mối đe dọa trực tiếp đối với họ. Các nước như Thailand, Malaysia, Myanmar hay Indonesia đều hiểu rằng, họ cần liên kết với Mỹ để có chỗ dựa cân bằng với sức ép Trung Quốc. Chỉ riêng Lào và Cambodia đã bị hút vào quỹ đạo ảnh hưởng của Trung Quốc.

Như vậy, Việt Nam là nước duy nhất đang còn bối rối không biết lên con thuyền nào. Việt Nam tự đặt mình trong một thế đứng “trên dây” khi muốn cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ. Tất nhiên, thế đứng chênh vênh này chứa nhiều rủi ro vì siêu cường nào cũng có thể “đẩy” Việt Nam mà không sợ gặp phải sự chống lưng của siêu cường kia. Đây chính là nguy cơ của một nước nhỏ đơn độc trước các tính toán của nước lớn.  

Trong bối cảnh này, Việt Nam đang tự trang bị vũ khí cho mình, và muốn tìm kiếm sự ủng hộ của Nga. Nga là một nước có tham vọng hướng Đông, nhưng chính sách của Nga tập trung nhiều vào việc mở rộng thị trường châu Á hơn là “chống lưng” cho Việt Nam. Trong một chừng mực nào đó, Nga như một anh “lái buôn” cung cấp khí đốt cho Trung Quốc, vũ khí cho Việt Nam, hay công nghệ cho Ấn Độ. Nga sẽ phải cân nhắc giữa các khách hàng của mình và họ muốn tiếp tục vai trò “trung gian” vì nó có lợi cho Nga nhất. Chính vì vậy, việc Việt Nam dựa vào Nga không thể vượt quá một người cung cấp vũ khí chiến lược cho mình.

Việt Nam cần xem lại các mối quan hệ quốc tế toàn cầu để định vị cho mình. Nhìn vào bàn cờ thế giới, có thể thấy một bên là các  nước dân chủ như Mỹ, Nhật, Châu Âu, Úc và các nước lớn trong ASEAN, một bên là Trung Quốc. Đứng về phía Trung Quốc, nguy cơ bị lệ thuộc là nhãn tiền vì vị trí địa chiến lược của Việt Nam sẽ là cái Trung Quốc cần trong tham vọng bá chủ của  mình. Đứng về phía dân chủ, Việt Nam không những tạo ra một thế đứng vững chắc cho mình vì được ủng hộ bởi thế giới mà còn giải quyết được một trong những vấn đề lớn nhất của mình, đó là đoàn kết dân tộc.

Khi Việt Nam thống nhất, sự khác biệt trong ý thức hệ tiếp tục tồn tại. Tư tưởng “Bắc” “Nam” vẫn còn, và ranh giới “Việt Kiều” “Việt Cộng” vẫn hằn sâu. Hơn thế nữa, từ khi đất nước đổi mới, mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và tư tưởng “chủ nghĩa xã hội” ngày càng nghiêm trọng. Điều này dẫn đến sự hoành hành của tham nhũng do thiếu vắng phản biện và kiểm soát quyền lực. Sự chia rẽ giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa người có chức quyền và nhân dân lao động ngày càng rộng ra. Nếu không dân chủ hóa thì Việt Nam sẽ ngày càng yếu đi cả về kinh tế, an ninh và tinh thần dân tộc.

Rõ ràng dân chủ hóa là con đường đúng đắn tạo ra thế đứng độc lập của Việt Nam, trong đó điểm tựa là sự chia sẻ và ủng hộ của toàn thế giới tự do và dân chủ. Dân chủ cũng tạo ra thế đứng bình đẳng cho lãnh đạo trong quan hệ với Trung Quốc vì nền tảng của quan hệ là ý chí của nhân dân, chứ không phải là ý thức hệ. Đây cũng chính là lối thoát khỏi thế “chênh vênh trên dây” đầy rủi ro cho đất nước và dân tộc Việt Nam.