Việt Nam bị ảnh hưởng sâu rộng bởi văn hóa truyền thống của Trung Quốc, đặc biệt giới trí thức tinh hoa. Văn hóa Nho giáo coi lễ là cách quản lý gia đình và xã hội, nên sự phục tùng được đặt lên hàng đầu. Trong gia đình, con trái ý cha mẹ là con bất hiếu. Ở cấp quốc gia, quân trái ý vua là bất trung. Những hành vi này trở thành nền tảng giá trị đạo đức trong xã hội cũng như triết lý trong cai trị của nhà nước phong kiến. Trong quá khứ, khi cuộc sống nông nghiệp khá đơn giản, đồng nhất, thì lễ đã rất thành công trong sắp đặt xã hội và duy trì vai trò quản lý của nhà nước.

Ảnh: vinh quy bái tổ (nguồn: internet)


Suốt một thế kỷ qua, Việt Nam đã trải qua những biến động lịch sử, văn hóa và chính trị to lớn. Các tư tưởng triết học phương Tây nhanh chóng thâm nhập vào Việt Nam trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta. Cùng với sự tan rã của triều đình phong kiến, các giá trị truyền thống như lễ đã không còn là độc tôn. Đỉnh điểm là khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong tuyên ngôn độc lập của mình, Hồ Chí Minh đã viện dẫn những giá trị cốt lõi nhất của một nền dân chủ, đó là “mọi người sinh ra đều có quyền tự do và bình đẳng....”. Các giá trị dân chủ và tự do đã dần dần lan tỏa, giải phóng, và khuyến khích các tầng lớp nhân dân già trẻ, gái trai, đa số hay thiểu số lên đường đánh giặc giữ nền độc lập của dân tộc.

Trong thăng trầm lịch sử, chủ nghĩa cộng sản đã được lựa chọn như tư tưởng chính trị độc tôn, áp dụng trong quản lý nhà nước, phát triển kinh tế và xã hội ở miền Bắc sau 1954 và cả nước sau 1975. Đến năm 1986, khi nhận ra một số điểm không phù hợp của kinh tế tập thể và mô hình hợp tác xã, Đảng cộng sản phát động đổi mới và áp dụng một số quy luật của kinh tế thị trường, cho phép hội nhập văn hóa và thương mại quốc tế. Như một làn sóng mới, Việt Nam phát triển vượt bậc trong nhiều năm, cứu dân tộc khỏi nạn đói cũng như cởi trói cho xã hội phát triển và trở nên đa dạng hơn. Tuy nhiên, nhìn vào những khó khăn kinh tế, khủng hoảng xã hội và niềm tin hiện tại, có lẽ Việt Nam cần học và tiếp tục tinh thần đổi mới năm 1986 để vượt qua những thách thức cho dân tộc.

Chúng ta có thể học được rất nhiều điều từ sự sụp đổ của Nho giáo. Theo nhà văn hóa, nhà sử học Trần Trọng Kim, một tư tưởng đã thống trị Việt Nam hơn 2000 năm mà bị đạp đổ nhanh chóng là do nhiều nguyên nhân nội sinh, cũng như ngoại sinh khác nhau.

Thứ nhất, Việt Nam ta xưa tôn sùng Nho giáo, cho là chính đạo độc tôn. Luân lý, phong tục, chính trị, bất cứ việc gì cũng lấy Nho giáo làm cốt. Tuy nhiên, các học thuyết về tôn giáo hay chính trị cũng tuân theo cái lẽ huyền bí của trời đất. Khi chiếm vị trí độc tôn, không ai dám phê bình đến, không dám sửa đổi nữa, lâu ngày thành cái vỏ cứng, rồi cứ khô dần đi. Khi đó, Nho giáo không có cái sinh khí sinh hoạt hàng ngày làm cho ngày càng mới thêm, càng tươi tốt thêm, thì tất là cái tinh thần mất mòn đi, sau chỉ còn cái xác không mà thôi.

Thứ hai, bỏ qua việc tiếp thu đôi khi hời hợt, thấy cái vỏ chứ không thấy cái tinh thần, nhiều trí thức người Việt cứ quen tiếp thu thụ động, theo cái khuôn nhất định của tiền nhân để lại. Việc phải trái hay dở thế nào, cũng chỉ ở trong cái khuôn đó, chứ không chệch ra ngoài được. Mặc trời đất vận động, xã hội biến đổi, họ vẫn thuận theo lễ, nể sợ bề trên nên sự phê bình phản biện càng ngày càng hẹp lại, thậm chí không dám cất tiếng, chỉ phụ họa cho hợp với lễ và nhạc.

Thứ ba, do coi Nho giáo là tư tưởng độc tôn nên không biết có cái tư tưởng gì khác nữa mà so sánh cái hơn, cái kém. Trí thức chỉ sáng tác văn chương, học thuộc chữ nghĩa trong cái lồng Nho giáo, và nghĩ rằng mình đã thấu hiểu và thuận theo thiên lý. Vì không tìm hiểu rộng ra ngoài Nho giáo, nên đất nước rất kém về khoa học kỹ thuật cũng như nền kỹ trị xã hội. Đến khi thời thế biến đổi, bỗng chốc tư tưởng phương Tây tràn vào, mà nhất là cái thế lực ấy lại mạnh hơn và năng động hơn, thì làm thế nào mà đứng được? Người trong nước lúc đó như đang ngủ mê, thức dậy, ngơ ngác không biết xoay xở thế nào. Lúc đầu tìm cách kháng cự lại, sau thấy càng cựa bao nhiêu lại càng bị đè bẹp bấy nhiêu, thế bất đắc dĩ mới đành chịu bẹp.

Từ nguyên nhân của sự sụp đổ của Nho giáo cũng như thất bại của kinh tế tập thể, chúng ta thấy việc học hỏi, tích hợp, và áp dụng cái hay, cái hợp của các tư tưởng khác nhau là vô cùng quan trọng. Nho giáo rất coi trọng giá trị đạo đức, chính tâm, tu thân, hòa hợp giữa nhân đạo và thiên đạo, nên vẫn phù hợp với xã hội hiện đại. Những giá trị này được khôi phục thì sẽ góp phần dẹp bỏ vấn nạn lừa đạo, tham ô, lạm quyền, hại nhau vì tư lợi đang rất phổ biến. Triết học phương tây rất coi trọng dân chủ, tự do và quyền con người, và nó phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của xã hội, và hội nhập quốc tế. Kết hợp các tư tưởng này trong quản lý xã hội sẽ giúp tránh được chia rẽ cũng như tụt hậu.

Mỗi dân tộc đều có cội nguồn, nguyên khí tích tụ từ ngàn đời để lại, không nên hồ đồ vứt bỏ gây đứt gẫy. Điều quan trọng là loại bỏ những hạn chế của Nho giáo, vận dụng những cái hay của triết học phương Tây để mở mang dân trí, chấn hưng dân tộc. Nếu áp đặt một tư tưởng độc tôn nào, chắc chắn là sai lầm vì nó đi ngược lại lẽ của trời đất: “có biến mới sống, không biến là chết”.