Ngày Phòng chống HIV thế giới năm nay (1/12/2013), TP.HCM không có một hoạt động rầm rộ nào diễn ra như mọi năm cả. Ngoài đường, chỉ có vài băng rôn trên vỉa hè quận 1 kêu gọi “không phân biệt đối xử và kỳ thị với người nhiễm HIV/AIDS”, và một triển lãm nhỏ nằm trong khuôn viên Nhà Văn Hóa Thanh Niên TP.HCM. Sự xuống dốc này có thể do kinh phí đã cạn kiệt, ý tưởng đã không còn hay vì một nguyên nhân nào đó mà chúng ta chưa nhìn nhận thẳng thắng về vấn đề “Tại sao hoạt động HIV/AIDS lại đi xuống ở những năm gần đây?”.

Nhân đọc bài “để cuộc sống tình dục an toàn và thỏa mãn” có bàn về khía cạnh phân biệt đối xử, tôi xin có vài chia sẻ với Diễn Ngôn về “phân biệt đối xử” từ một khía cạnh khác trong công tác phòng chống HIV.


Sự độc quyền và phân biệt đối xử làm giảm hiệu quả phòng chống HIV/AIDS
Sự độc quyền và phân biệt đối xử làm giảm hiệu quả phòng chống HIV/AIDS. Ảnh: Internet.

Tôi lớn lên cùng phong trào phòng chống HIV/AIDS thành phố những năm 1996 với dự án ban đầu dành cho thanh niên mang tên rất hay Quán cà phê Bao Cao Su (BCS). Những năm này, BCS vẫn còn là một điều cấm kị trong mọi người dân Việt Nam từ già đến trẻ và vì thế Quán cà phê ấy có tên là Quán cà phê Thanh Niên. Với hơn 10 năm học hỏi, trao dồi kiến thức - kinh nghiệm, trải qua nhiều dự án tham gia trực tiếp, gián tiếp và điều hành, năm 2009 tôi lại quyết định không làm trong lãnh vực này nữa. Tại sao vậy?


Quyết định của tôi được thực hiện ngay năm 2009 lúc mà hoạt động phòng chống HIV/AIDS vẫn ở trong cao trào với nhiều dự án đang được thực hiện bởi các nhà tài trợ “cá mập” như World Bank, PEPFAR, Quỹ toàn cầu, CDC Mỹ, USAID… cùng nhiều nhà tài trợ “nhỏ lẻ” khác. Nhưng chính lúc ấy tôi nhận thấy: đây là hoạt động đặc thù của nhà nước, với sự tham gia “hình thức” của đối tượng thụ hưởng. Ngoài ra, còn có một sự “phân biệt đối xử” giữa nhà nước và hoạt động của những tổ chức xã hội dân sự ở đây.


Hệ thống y tế độc quyền trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam từ quyết định chiến lược, quyết định tài trợ, quyết định các hoạt động can thiệp và thậm chí cả việc cho phép hoạt động như thế nào. Mặc dù, họ luôn nhận định đây là căn bệnh thế kỷ và hoạt động phòng chống HIV/AIDS phải có sự tham gia của người dân nhưng những người bị ảnh hưởng trực tiếp như người hành nghề mại dâm và người sử dụng ma túy không được cất tiếng nói. Họ được coi là nhóm đối tượng đích nhưng lại bị coi là nằm ở đáy tận cùng của xã hội, là “tệ nạn” nên việc đóng vai “nhóm đối tượng đích” hay “nhóm đối tượng có nguy cơ” thực sự không diễn ra trên thực tế.


Dù có rất nhiều tổ chức, mạng lưới, nhóm của đối tượng đích như “Vì ngày mai tương sáng”, “Bạn giúp Bạn”, “Mạng lưới người nhiễm Việt Nam”, các nhóm “Giáo dục đồng đẳng”, “Nhóm hoạt động cho người MSM”… được thành lập nhưng không có tư cách pháp nhân. Chính vì vậy họ phải phụ thuộc vào các tổ chức NGO Việt Nam tại miền Bắc và miền Nam, phải dựa vào ngành y tế để hoạt động. Họ như “công cụ” triển khai dự án của các tổ chức NGO hoặc của ngành y tế. Chính vì vậy họ hoạt động theo khuynh hướng có dự án thì thực hiện không còn dự án thì tan rã. Bản thân họ cũng không có chiến lược phát triển tổ chức, hoặc có cũng khó được hỗ trợ đầy đủ bởi các tổ chức “mẹ”.


Do kinh phí quá nhiều nên hoạt động phòng chống HIV/AIDS thường chạy theo kết quả đầu ra, con số ấn tượng nhưng thực chất thì không quan tâm đến tính bền vững của tổ chức hay sự hiệu quả của can thiệp. Thành viên có được đi học tâp nước ngoài, hội nghị, hội thảo, tập huấn... nhưng các hoạt động này chỉ tập trung vào phục vụ việc triển khai dự án hơn là xây dựng thể chế bền vững của tác tổ chức cộng đồng. Hệ quả là năm nay, rất nhiều nhóm đã tan rã, hoạt động phòng chống HIV chỉ còn quanh quẩn đâu đó ở những tổ chức còn chút kinh phí còn lại. Có thể coi hoạt động dân sự của việc phòng chống HIV “chết lâm sàng” một cách toàn diện so với những năm kinh phí còn dồi dào, cũng như so với các hoạt động khác về người khuyết tật, trẻ em, hay môi trường.


Dù có nhiều chuyên gia giỏi, được đầu tư tốn kém nhưng do có quá ít người dấn thân lãnh đạo tổ chức mình để tồn tại như là một tổ chức xã hội dân sự thực thụ, cộng với sự độc quyền y tế nên tất cả các dự án sau khi hết tiền các hoạt động cũng kết thúc theo. Khi đó, các tổ chức cộng đồng “đường ai nấy đi”. Ví dụ tại TP.HCM hiện tại rất nhiều nhóm hoạt động về MSM chuyển qua bán bún, nhóm mạng lưới thì mở quán cà phê, nhiều nhóm phải dẹp hay tan rã, và các nhóm khác thì cứ để đó xem thời cuộc thế nào.


Có thể có nhiều lý do khác để giải thích việc các dự án đóng cửa hoạt động, hoạt động dân sự trong phòng chống HIV/AIDS phập phù nhưng xét về khía cạnh tham gia của người dân thì chắc chắn có sự “phân biệt đối xử” nào đó mà phải nhờ những chuyên gia khác có kinh nghiệm hơn tôi tham gia phân tích để có thể hiểu rõ ràng hơn việc này. Điều này là quan trọng vì gần đây có dự án 25 triệu đô của Mỹ hỗ trợ xã hội dân sự hoạt động phòng chống HIV. Tuy nhiên, liệu tiền nhiều có phải là tốt nếu sự phân biệt đối xử, sự độc quyền (nhà nước hoặc tổ chức), sự thiếu vắng tiếng nói của người hưởng lợi, và đặc biệt là không có sự dấn thân của lãnh đạo cộng đồng vẫn còn đó?


Cuối cùng, tôi muốn nhắc lại một chia sẻ thâm thúy mà một nhà Công tác xã hội “gạo cội” đã từng nói (với tư cách cá nhân) “Trong hoạt động HIV/AIDS mà còn độc quyền, không khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội thì đó là tội đấy”.