Một khảo sát của Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) tiến hành trong tháng 2 năm 2015 đã cho thấy, chỉ có 10% người tiêu dùng biết một cơ quan, hiệp hội nào đó bảo vệ quyền cho mình. Số người sử dụng các cơ chế khiếu nại, khiếu kiện còn thấp hơn nữa, chỉ giao động từ 2% đến 3%. Điều này cho thấy một thực tế đáng báo động nhưng không đáng ngạc nhiên ở Việt Nam.


Ảnh: chỉ khi tư pháp độc lập và người dân sử dụng các cơ chế khiếu kiện thì quyền người tiêu dùng mới được bảo vệ (nguồn: internet)
Ảnh: chỉ khi tư pháp độc lập và người dân sử dụng các cơ chế khiếu kiện thì quyền người tiêu dùng mới được bảo vệ (nguồn: internet)


Các cơ chế khiếu kiện ra tòa án là công cụ hữu hiệu nhất cho việc bảo vệ quyền con người nói chung và quyền người tiêu dùng nói riêng. Có thể hiểu nôm na, Hiến pháp và Luật ghi nhận các quyền của người dân có. Nhưng các quyền này chỉ được bảo vệ khi người dân có khả năng sử dụng các cơ chế khiếu kiện ra tòa án khi quyền của mình bị vi phạm. Đơn giản, khi người dân khiếu kiện, vụ việc mới được đưa ra công lý, và những người hoặc cơ quan xâm phạm quyền của họ mới bị trừng phạt. Điều này cũng có tác dụng giáo dục công chúng về quyền của mình, và răn đe và ngăn chặn các cá nhân tổ chức khác vi phạm quyền.

Luật bảo vệ quyền người tiêu dùng Việt Nam cho phép người tiêu dùng khiếu kiện doanh nghiệp, và các Tổ chức xã hội (dân sự) thay mặt người tiêu dùng khởi kiện. Luật cũng cho phép các tổ chức xã hội tự khởi kiện doanh nghiệp mà không có yêu cầu của người tiêu dùng vì lợi ích công cộng, thậm chí có thể miễn tạm ứng án phí. Tuy nhiên, có nhiều bất cập hạn chế người dân và các Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng sử dụng công cụ pháp lý này.

Thứ nhất, mặc dù người dân có quyền khởi kiện và vụ kiện có thể có nhiều nguyên đơn, hoặc tòa án có thể nhập các vụ án có nhiều nguyên đơn khởi kiện thành một, nhưng điều này chưa đủ để khuyên khích người dân khiếu kiện tập thể. Trên thực tế từng người tiêu dùng khi bị thiệt hại thường ngại khởi kiện do sợ tốn thời gian, sợ đơn độc, hoặc sợ bị thua. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì khi tính chi phí và lợi ích, đa số họ lựa chọn im lặng, chuyển qua nhà cung cấp khác, hoặc cùng lắm là chia sẻ và kêu gọi tẩy chay như nghiên cứu của iSEE đưa ra.

Thứ hai, mặc dù Luật cho phép các tổ chức xã hội dân sự khởi kiện doanh nghiệp gian dối nhưng cơ chế tài chính đang ngăn cản họ thực hiện việc này. Nếu thua kiện, họ phải trả toàn bộ án phí, bao gồm cả tiền luật sư, chi phí kiểm định, và các chi phí liên quan. Nếu thắng kiện, họ không được hưởng tiền phạt doanh nghiệp vì hiện tại tiền này được cho vào ngân sách nhà nước. Rõ ràng, dù thằng hay thua thì các tổ chức xã hội dân sự đều không hoàn được chi phí, và rủi ro với họ quá cao.

Thứ ba, hiện ở Việt Nam chưa có nhiều Hiệp hội và Tổ chức xã hội dân sự hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền người tiêu dùng. Một phần do chưa có cơ chế để họ tự tạo ra nguồn kinh phí hoạt động, một mặt vì hành lang pháp lý cho các Hiệp hội độc lập thành lập chưa có.

Để khắc phục tình trạng này, Việt Nam cần có ba giải pháp cơ bản cần thực thi ngay.

Thứ nhất, cần xóa bỏ tâm lý e ngại khiếu kiện tập thể, khuyến khích người dân liên kết các lợi ích nhỏ lẻ thành lợi ích đủ lớn để “xứng tầm” với chi phí phải bỏ ra. Về hình thức, nhiều người dân có thể tham gia vụ kiện nhưng họ sẽ được đại diện bởi một nhóm nguyên đơn, hoặc Luật sư đại diện để khởi kiện. Khi đó, những lo lắng về “mất trật tự công cộng” hoặc “lợi dụng gây rối” của “khiếu kiện tập thể đông người” sẽ không còn. Song song đó, cần thay đổi cơ chế tài chính khi các Tổ chức xã hội dân sự khởi kiện vì mục đích công cộng. Có thể học kinh nghiệm của châu Âu nơi chính phủ trả tiền cho các vụ kiện này, hoặc Mỹ nơi các luật sư sẽ chịu chi phí và hưởng phần trăm số tiền phạt doanh nghiệp nếu thắng kiện.

Thứ hai, Việt Nam cần có một Quỹ bảo vệ quyền người tiêu dùng. Quỹ này tiếp nhận các khoản phạt doanh nghiệp vi phạm quyền người tiêu dùng mà không có địa chỉ người tiêu dùng để trả lại. Ví dụ, gần đây một công ty xăng dầu ăn gian người tiêu dùng với thiệt hại ước tính lên đến 7 tỉ đồng. Nếu bị phạt, về nguyên tắc tiền này phải trả lại cho người tiêu dùng bị thiệt hại, chứ không phải tiền của nhà nước. Tuy nhiên tiền này không thể trả lại cho từng người tiêu dùng vì không xác định được ai mua bao nhiêu, thiệt hại như thế nào. Thay vì sung công quỹ, tiền này nên cho vào Quỹ bảo vệ quyền người tiêu dùng, cấp cho các Tổ chức xã hội dân sự, Hiệp hội bảo vệ quyền người tiêu dùng sử dụng vào công việc giáo dục, khởi kiện vì mục đích công cộng, và hỗ trợ người tiêu dùng khiếu nại, khiếu kiện.

Thứ ba, Hiện Việt Nam mới có một Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền người tiêu dùng (VINASTAS) với 50 chi nhánh ở các tỉnh và thành phố. Tuy nhiên, hơn 90% người tiêu dùng không biết về Hiệp hội này. Rõ ràng, việc giáo dục, bảo vệ quyền người tiêu dùng chủ động thuộc vài trò của xã hội dân sự. Chính vì vậy, một khung pháp lý, cụ thể là Luật về hội cần được xây dựng để các Hiệp hội ra đời, đáp ứng nhu cầu thực chất của người tiêu dùng.

Tóm lại, tất cả các thay đổi trên đều cần thiết nếu Việt Nam thực sự muốn bảo vệ quyền người tiêu dùng, và quan trọng nhất là tạo thuận lợi cho việc người dân sử dụng cơ chế khiếu kiện. Khi người dân khiếu kiện, quyền của họ sẽ được bảo vệ tốt hơn. Khi đó, doanh nghiệp sẽ phải làm ăn tử tế hơn, cung cấp hàng hóa và dịch vụ tốt hơn. Nhà nước cũng được hưởng lợi vì được nhẹ gánh quản lý vì ít vụ việc vi phạm quyền người tiêu dùng hơn.