Trong một chuyến điền dã ở Tây Nguyên mới đây, một già làng ở Kon Tum khẳng định người Tây Nguyên có truyền thống canh tác nương rẫy từ lâu đời nhưng không "du canh du cư" như các nhà báo và nhà nghiên cứu thường hay nhận xét. Ông cho biết, người Tây Nguyên chỉ tìm đất mới để lập làng khi 'đất cũ không nuôi nổi mình', tức khi nơi ở cũ có dịch bệnh hay những sự kiện lớn không hay xảy ra. Ông cho rằng, sở dĩ các nhà nghiên cứu, các nhà báo có những nhận xét sai như vậy vì  "họ chỉ ở Hà Nội họ dự đoán như các nhà khí tượng dự báo thời tiết".


Ảnh: hoạt động tâm linh của ngươi dtts


Công thức "không đi thực địa = diễn giải sai' của già làng chỉ là một nửa của câu chuyện. Xu hướng nhìn nhận, đánh giá về các thực hành văn hoá, xã hội của người dân tộc thiểu số theo lối suy nghĩ rập khuôn, mang tính định kiến, theo Grant Evans  và Culas , không phải do do 'thiếu thực tế' mà xuất phát từ 'điểm yếu về tri thức luận' và lý do 'chính trị". Grant Evans nhận xét, các nhà nghiên cứu Việt Nam có cái nhìn “... cảm thông hơn với các tộc người thiểu số so với các thành phần xã hội khác, và họ cố gắng tư liệu hóa cuộc sống của người bản địa một cách chi tiết. Tuy nhiên, các tư liệu này sau đó được lọc qua một lăng kính lý thuyết không phù hợp, chịu thêm gánh nặng phải đi tìm sự hợp lý cho các chính sách hiện hành....cho người dân tộc thiểu số”.

Lăng kính lý thuyết được Grant Evans nhắc đến ở đoạn trích trên chính là lý thuyết tiến hóa luận đơn tuyến về sự khác biệt văn hóa, một lý thuyết thường được các nhà khoa học xã hội Việt Nam sử dụng (có thể một cách vô thức) để giải thích sự đa dạng văn hóa của các tộc người ở Việt Nam. Theo lăng kính lý thuyết này, loài người phát triển từ thấp đến cao theo đường thẳng duy nhất. Trong quá trình tiến hoá, có một số dân tộc leo lên được bậc thang tiến hoá nhanh hơn các tộc người khác nên họ 'văn minh' hơn. Sử dụng các 'tiêu chí' phân loại của Morgan và Ăng Ghen, không ít nhà khoa học Việt Nam cho rằng các tộc người thiểu số ở trình độ phát triển thấp hơn so với người Kinh. Xã hội của nhiều dân tộc thiểu số ở khu vực phía bắc cho đến năm 1945 và các tộc người ở Tây Nguyên (cho đến năm 1975) hầu hết ở giai đoạn tiền nhà nước, phân hóa giai cấp chưa hình thành, hoạt động kinh tế còn mang dấu ấn nguyên thủy.

Không chỉ đơn thuần ảnh hưởng bởi tư tưởng của thuyết tiến hóa, việc phân loại sự phát triển các tộc người ở Việt Nam theo nấc thang tiến hoá đơn tuyến của các nhà nghiên cứu còn nhằm phục vụ mục tiêu 'văn minh hoá các tộc người ngoại biên" (Duncan 2004)  của nhà nước. Một số nhà dân tộc học có uy tín ở Việt Nam, như Mạc Đường, cũng thừa nhận tính thực dụng của dân tộc học trong những giai đoạn lịch sử khi thừa nhận “Ở Việt Nam, vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nghiên cứu của các nhà dân tộc học đã mất đi tính chất thuần túy khoa học, và các học giả đã tham gia tích cực vào hoạt động thực tế để chuyển đổi cuộc sống của các dân tộc trước đây lạc hậu, để phát triển văn hóa và kinh tế của họ.” Điều này cũng được chia sẻ bởi Lê Văn Hảo khi cho rằng “Đối với dân tộc học, công việc là nghiên cứu việc hình thành và phát triển của các dân tộc và đặc tính của cuộc sống vật chất và văn hóa để phát huy truyền thống một cách tốt nhất, chỉ ra những tàn dư lạc hâu, và như vậy xóa bỏ chúng từng bước, góp phần tái hình thành và phát huy xã hội của các dân tộc, đẩy mạnh thống nhất và đoàn kết giữa các dân tộc và tự hào quốc gia”.

Chịu ảnh hưởng của quan điểm tiến hóa luận và để tìm cách diễn giải phù hợp cho các chính sách phát triển của nhà nước ở vùng các dân tộc thiểu số, các nhà dân tộc học và văn hóa dân gian chia sự phát triển của tất cả các nhóm DTTS thành các thang bậc theo thang đo tiến hóa đơn tuyến của Morgan và Ăng Ghen. Một nhà nghiên cứu nhận xét: “Về mặt xã hội 54 dân tộc nước ta, cho đến thời kỳ cận đại, không thuộc một trình độ thống nhất. Ít nhất có thể có ba loại xã hội: (i) Xã hội chưa hình thành giai cấp (ví dụ như các dân tộc ở Tây Nguyên); (ii) Xã hội bắt đầu hình thành giai cấp (ví dụ như các dân tộc Mường, Thái); (iii) Xã hội giai cấp phát triển (ví dụ như người Kinh)”. Tương ứng với các loại hình xã hội đó có 3 loại hình văn hóa: Văn hóa của thời kỳ tiền giai cấp; văn hóa của giai cấp mới hình thành; văn hóa của thời kỳ giai cấp phát triển”

Tương tự như vậy, trong công trình Những đặc điểm chủ yếu của các dân tộc ở nước ta (2004), tác giả cũng chia các tộc người thiểu số thành ba giai đoạn phát triển. Theo đó, ít nhất cho đến năm 1945, các nhóm ở trình độ thấp nhất chỉ mới ở giai đoạn “phạm trù tan rã của xã hội nguyên thủy. Họ bao gồm các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam đảo sống ở Tây Nguyên, các nhóm nói tiếng Môn Khơ Me. Nhóm thứ hai đạt đến “giai đoạn sơ kỳ phong kiến”, bao gồm Thái, Tày, Mường và Nùng. Tộc người thiểu số đạt đến trình độ phát triển cao nhất là người Hoa. Nhưng trong bài viết này, tác giả không cho biết người Kinh đang ở trình độ nào.

Từ sự phân loại các DTTS theo sự phát triển cao thấp của bậc thang tiến hoá đơn tuyến nên sự đa dạng của các loại hình kinh tế và văn hoá – xã hội các nhóm tộc người đã và đang thực hành cũng được sắp xếp theo thứ tự cao thấp, từ lạc hậu đến văn minh. Ví dụ, các tập tục hôn nhân của nhiều tộc người vùng Trường Sơn – Tây Nguyên như tục nối nòi, tục ở rể v.v.. bị coi là “các tàn dư nguyên thuỷ” và vì vậy “tuy có khắc phục một bước nhưng phải tiếp tục loại bỏ các hiện tượng lỗi thời”. Tương tự như vậy, các thực hành văn hoá như “tục cột chỉ tay cho trẻ sơ sinh, tục cầu mùa, phồn thực, tục kéo vợ [tự nguyện], tục trở về (lại mặt), hôn nhân cư trú bên vợ, vv” cũng bị coi là “những yếu tố lỗi thời”.

Một xu hướng khác là đồng nhất các hoạt động kinh tế của các tộc người thiểu số với canh tác nương rẫy, và khoác tấm áo “kĩ thuật lạc hậu”, “năng suất thấp”, “không thân thiện với môi trường…. Phong tục, tập quán, các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của nhiều tộc người thiểu số cũng chịu cái nhìn đầy định kiến khi bị gán cho là mê tín dị đoan, lạc hậu, tốn kém.

Cách nhìn theo thang đo tiến hóa này của các nhà khoa học phù hợp với các chính sách, chương trình giúp đỡ DTTS ở các trình độ thấp phát triển hơn để “tiến kịp” những tộc người ở trình độ phát triển cao hơn. Tuy nhiên, khá nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, sự phân chia các tộc người theo trình độ phát triển cao thấp và coi các DTTS vẫn nằm tĩnh tại trong lịch sử đã bỏ qua lịch sử tương tác lâu dài giữa các nhóm tộc người và giữa người miền núi với người Kinh ở miền xuôi. Sự tương tác này đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển của văn hóa và kinh tế của cả người Kinh và người thiểu số.

Trong bài viết Kết nối sự phân chia: Buôn bán thuốc nam của người thiểu số và sự tái sản xuất dân tộc Việt Nam, Sowerwine  đã chỉ ra một cách thuyết phục rằng, những sản phẩm thuốc nam của người Dao – một tộc người canh tác nương rẫy ‘lạc hậu’- đã đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc chữa trị và nuôi dưỡng “cơ thể của dân tộc” cả ở khía cạnh biểu tượng và vật chất. Thêm vào đó, quan điểm coi các thực hành sinh thái và kinh tế truyền thống của người DTTS là lạc hậu, vô tình hay hữu ý, đã bỏ qua những sáng tạo và tri thức bản địa được họ phát triển hàng trăm năm trong quá trình đấu tranh và phát triển ở môi trường miền núi. Vì vậy, Jamieson, Lê Trọng Cúc và Rambo  đã coi những cách hiểu phổ biến này là “sự hoang đường” [myth], và không phản ánh thực tế. Các tác giả, trong bài viết đã nêu ra những quan điểm hay được sử dụng trong diễn ngôn về dân tộc thiểu số ở Việt Nam, mà các ông cho đó là “nhầm lẫn cơ bản”

Thật không may, các nghiên cứu có tính phản biện khách quan về thực hành văn hoá xã hội của người dân tộc thiểu số như của Sowerwine hay tiếng nói của người trong cuộc như của già làng nêu ở đầu bài viết chưa được phổ biến và sử dụng nhiều trong việc lập chính sách, trong truyền thông.  Thay vào đó, nhiều “kiến thức” về dân tộc thiểu số được 'sản xuất' dựa trên lý thuyết tiến hoá đơn tuyến hiện nay ngày càng trở thành “sự thật” hiển nhiên, được dùng như những cơ sở 'khoa học' cho việc lập chính sách, truyền thông. Cách diễn giải sai lệch có thể tạo ra định kiến xã hội, kỳ thị và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của các dân tộc thiểu số.