Tôi là một người Khơ Mú, sống ở một bản của tỉnh Nghệ An, sát biên giới với Lào. Bản tôi chỉ có hơn 40 hộ gia đình, sống bình yên rải rác dưới chân núi. Cuộc sống của chúng tôi dựa vào nương rẫy, sản vật của rừng và cá suối. Đường xa, chợ lạ nhưng cũng không quan trọng vì nương rẫy cho rau quả, rừng cho củi và thức ăn, suối cho cá và nước uống. Trong bản có nhà khá, có nhà nghèo nhưng nếu bản còn ngô còn thóc có nghĩa là không ai sợ đói. Chia sẻ giúp nhau là truyền thống lâu đời giúp người Khơ Mú vượt qua khó khăn từ đời này sang đời khác.

Ảnh: Một bản của ngươi dân tộc (nguồn internet)

Một ngày đẹp trời, có một chiếc xe ô tô vượt rừng vào với bản. Bọn trẻ con lúc đầu e dè nhưng sau tụ lại quanh chiếc xe vì tò mò. Cả bản nhanh chóng được gọi đến nhà trưởng bản họp. Thì ra, một đoàn công tác tận ngoài Hà Nội vào giúp chúng tôi thoát cái đói, diệt cái nghèo. Nghe cán bộ phổ biến ai cũng há mồm ra vì lạ, chẳng hiểu sao có tổ chức tận ngoài thủ đô vào giúp mình. 

Sau cuộc họp cán bộ trung ương mang ra nhiều thẻ màu, giấy to, bút viết sặc sỡ. Bọn trẻ con nhìn thấy thích mê cứ sán vào sờ mó làm tôi phải quát kẻo hỏng hết đồ của cán bộ. Tôi nghe anh cán bộ huyện nói cán bộ trung ương giỏi lắm, toàn cử nhân và tiến sĩ, có người còn du học tận bên châu Âu về. Họ bàn nhau chia nhóm phụ nữ, nhóm thanh niên, nhóm người nghèo, nhóm người khá. Hay thật, chưa bao giờ có ai chia nhỏ cộng đồng Khơ Mú chúng tôi ra để “điều tra” như lần này. Cán bộ nói “chia nhỏ vậy để ai cũng được đưa ra ý kiến của mình, bảo đảm tính tham gia bình đẳng” nghe cũng hay hay.

Đầu tiên chúng tôi được giao nhiệm vụ phân loại hộ gia đình “giàu vào giàu, nghèo vào nghèo” theo hướng dẫn của một chị cán bộ. Trong bản chẳng có ai giầu, cùng lắm là khá như nhà trưởng bản vì có chút tiền trợ cấp. Nhoáng một cái chúng tôi đã làm xong. Rồi chị cán bộ hỏi cặn kẽ tại sao lại phân loại vậy, dựa vào tiêu chí gì, tại sao hộ này giàu và hộ kia nghèo. Cả nhóm chụm đầu lại bàn, chuyển hộ ông Săn từ nhóm khá xuống nhóm trung bình, bà Beo từ nhóm trung bình xuống nhóm nghèo. Không hiểu sao cán bộ lại bảo chúng tôi làm việc này vì từ trước đến giờ chẳng ai phân biệt giàu nghèo, cả bản sống cùng nhau thôi, người có thì cho người thiếu nên không hiểu phân loại hộ để làm gì.

Như biết thắc mắc của chúng tôi, chị cán bộ giải thích là dự án muốn hỗ trợ những người nghèo nhất, đặc biệt các hộ phụ nữ đơn thân vì họ là những người yếu thế, những người cần giúp đỡ nhất. Đó chính là nhân văn, là công bằng xã hội mà tổ chức chị hướng tới. Chúng tôi nghe cũng gật gù, ừ hóa ra họ chia mình ra để hỗ trợ cho đúng với mục đích nhân văn của họ. Đúng là cô cán bộ Hà Nội giỏi thật, cách cô ấy hỏi làm chúng tôi suy nghĩ, thức tỉnh và phát hiện ra bao nhiêu vấn đề bất bình đẳng trong cộng đồng mà từ trước đến nay chưa hề thấy. Tôi bỗng có cảm giác xấu hổ vì nhà mình nghèo, mình không có đất, mình thiếu ăn. Nhưng cũng thấy mừng vì nhà mình được phân là hộ nghèo, sẽ nhận được hỗ trợ của dự án. Nghĩ rồi cũng thấy lo lo vì các nhà khá không sinh hoạt cùng mình nữa, sau này nhỡ thiếu ăn thì họ còn giúp không.

Sang buổi chiều, chúng tôi được hỏi về nhiều điều khác và nhận biết những cái còn lạc hậu của dân tộc mình. Chị cán bộ chỉ cho thấy việc ăn ở không vệ sinh như trâu, bò, lợn gà nuôi quá gần nhà dễ sinh ra bệnh tật. Nhà vệ sinh không đúng tiêu chuẩn như miền xuôi nên có thể gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước. Chị còn trích dẫn các báo cáo khoa học nói rằng bệnh tật là một nguyên nhân của đói nghèo nên người Khơ Mú cần phải thay đổi cách sống, thậm chí là cách nghĩ thì mới thoát nghèo. Ốm thì phải đi viện chứ không được cúng tế hay chữa bằng lá rừng. Tôi nghe mà thấy người Khơ Mú mình lạc hậu thế, mình ở bẩn mà không biết, mình tự gây ra cái đói nghèo của mình mà không biết. Đúng là người thành phố họ sạch sẽ và văn minh thật.

Rồi cán bộ lại hỏi về sản xuất nông nghiệp, giống, phân, năng suất thu hoạch và thời gian thiếu đói. Chúng tôi được yêu cầu vẽ bản đồ thôn bản, chỉ cho cán bộ các khoảnh nương trồng rau, củ, quả, lúa xen nhau. Rồi xây dựng lịch thời vụ, khi nào trồng cây gì, nuôi con gì, thu hoạch gì để cho cán bộ phân tích. Cán bộ hỏi về trao đổi hàng hóa, chợ,  vay vốn ngân hàng và tiếp cận thông tin kỹ thuật và thông tin thị trường. Cán bộ phân tích nền kinh tế tự cung tự cấp của chúng tôi như là một nguyên nhân đói nghèo. Nương trồng hỗn tạp không sản xuất hàng hóa theo quy luật cung cầu nên khó tiếp cận thị trường. Dân bản còn sử dụng giống địa phương nên năng suất không cao. Không tiếp cận được thông tin nên không ra được quyết định đúng trong sản xuất. Chợ xa đường khó và không sử dụng tiền mặt nên bị cô lập với quá trình hiện đại hóa của đất nước và toàn cầu hóa của thế giới.

Nghe cán bộ phân tích chúng tôi thấy thật là thấm thía vì mình sống cách biệt, lỡ mất cơ hội hòa nhập thị trường toàn cầu. Nghĩ đến viễn cảnh sử dụng giống lai, năng suất cao có thể thừa ăn và bán ra ngoài thị trường lấy tiền đầu tư vào giáo dục cho con, mua đồ đạc cho nhà mà thấy phấn khích. Như vậy là mình không phải lo giữ giống trên gác bếp nữa mà sẽ có công ty đến bán giống, thu mua sản phẩm và thậm chí còn cho vay tín dụng để đầu tư. Rồi được tập huấn về kỹ thuật bởi cán bộ khuyến nông, tham gia làm mô hình trình diễn và tham quan nông dân dưới xuôi nữa. Đúng là cán bộ lo xa đã tính hết cho mình rồi. Vậy là khỏi phải xem thời tiết, tính thời vụ mà chỉ cần đợi lịch sản xuất của cán bộ và phân, giống của công ty để sản xuất hàng hóa.

Trong buổi họp chia sẻ kết quả để lấy ý kiến người dân, mà cán bộ nói để kiểm chứng kết quả điều tra đánh giá, đảm bảo đây là kết quả của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân  chứ không phải là ý kiến chủ quan của cán bộ. Đúng là họ tôn trọng nhân dân thật nên dù học cao hiểu rộng, họ vẫn hỏi ý kiến của mình, cho mình quyền quyết định. Nhưng mình cần gì quyết định nữa vì cán bộ đã chỉ rõ cho mình rồi, mình phải thay đổi chứ, phải nghe phân tích của cán bộ chứ nếu không cứ lạc hậu mãi à. Mình vui khi trưởng thôn cảm ơn đoàn cán bộ đã giúp dân nhận ra cái nghèo đói của mình, cái lạc hậu của mình, cái không hạnh phúc của mình để có động cơ thay đổi. Cảm ơn cán bộ giúp dân bản vẽ ra một viễn cảnh cho bản Khơ Mú trở nên hiện đại, tiến kịp miền xuôi.

Khi chiếc xe ô tô màu trắng khuất sau vạt rừng trở về thành phố, tôi theo già Thay về nhà. Già Thay lặng lẽ không nói gì làm tôi phải dò hỏi sao ông không vui và không phát biểu gì trong cuộc họp. Già Thay nhìn tôi buồn rầu nói “Già chỉ lo cho văn hóa của người Khơ Mú, kiến thức của người Khơ Mú, giống cây của người Khơ Mú sau này không còn ai giữ. Không biết cán bộ có giúp mình mãi không mà nếu họ không giúp nữa thì mình còn tự sống như bây giờ được không?” Già Thay nhìn tôi và thốt một câu làm tôi bối rối đến tận bây giờ: “Để người Khơ Mú sống như người Kinh không phải là khó con ạ, tuy nhiên, khi đó người Khơ Mú không còn tồn tại nữa.”