Phương pháp tiếp cận theo khung logic (Logical Framework Approach - LFA) là một công cụ thiết kế, giám sát và đánh giá các chương trình phát triển, được dùng rộng rãi bởi các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ quốc tế từ những năm 1970s. Trên thực tế, công cụ này tỏ ra khá hữu dụng khi miêu tả mối quan hệ logic giữa mục đích, kết quả mong đợi và hoạt động dự án.

Ảnh: Trong vận động chính sách tận dụng cơ hội là điều quan trọng để thành công (Nguồn: iSEE)
Ảnh: Trong vận động chính sách tận dụng cơ hội là điều quan trọng để thành công (Nguồn: iSEE)


Ví dụ, để đạt được mục đích xóa đói giàm nghèo cho người Hmong ở xã Tả Phìn, Huyện Sapa, tỉnh Lào Cai, dự án phải tạo ra kết quả là năng suất cây trồng được tăng lên. Để tăng năng suất cây trồng, phải giúp họ có giống tốt, có kỹ thuật và phân bón. Như vậy, dự án phải có các hoạt động cung cấp giống mới, tập huấn kỹ thuật, và cho vay vốn để mua phân bón. Dựa vào LFA này, các nhà tài trợ cũng sẽ đánh giá xem dự án có khả thi không, có “logic” không, và có hiệu quả không. Hiện nay, hầu hết các nhà tài trợ vẫn dùng công cụ này, và các tổ chức, cá nhân muốn nhận được tài trợ bắt buộc phải sử dụng LFA để thiết kế dự án.

Rõ ràng, LFA rất tốt cho các dự án phát triển phần cứng như “trồng cây gì, nuôi con gì, xây cái gì”. Mọi thứ đều rõ ràng, logic và có thể xác định được kết quả đầu ra của các hoạt động, và biết mục đích có đạt được hay không và khi nào sẽ đạt được. Tuy nhiên, việc sử dụng LFA cho các dự án tập trung vào phần mềm, ví dụ như phát triển năng lực cho cộng đồng, thúc đẩy phong trào bảo vệ quyền con người, hoặc vận động chính phủ ra Luật về hội tốt, thì LFA có những hạn chế to lớn. Nếu một tổ chức, hoặc cán bộ sử dụng khung logic để thiết kế hay đánh giá loại dự án kiểu này, khó mà hiệu quả.

Một ví dụ cụ thể là dự án nâng cao năng lực của mạng lưới người có HIV ở Việt Nam. Việc các nhóm cộng đồng có HIV khác nhau tụ họp lại để thành lập mạng lưới là một quá trình không thể định đoán trước. Các cá nhân có động cơ khác nhau, mong muốn khác nhau, văn hóa khác nhau sẽ hợp tác hoặc không hợp tác phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh. Trong quá trình, có nhóm rất tích cực, có nhóm thụ động và có nhóm chia tay vì không thấy phù hợp. Trong quá trình, những mâu thuẫn nội bộ có thể phát sinh và dự án cần có những can thiệp ngay để đảm bảo nhóm không bị đổ vỡ. Chính vì vậy, không một ai có thể ngồi dự đoán các kịch bản để cho vào khung logic khi xây dựng dự án. Những dự án kiều này yêu cầu yếu tố linh hoạt để đảm bảo các can thiệp phù hợp với bối cảnh phát sinh cũng như tiến trình phát triển của mạng lưới. Rõ ràng, việc sử dụng LFA để thiết kế có thể có ích trong việc đưa ra khung dự án. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả thì việc bám theo khung logic định sẵn sẽ nắm chắc phần thất bại.

Một ví dụ khác đó là các các dự án vận động chính sách. Việc gây ảnh hưởng lên Ban soạn thảo có nhiều cách khác nhau, tuy nhiên cách nào hiệu quả phụ thuộc vào thời gian, không gian và bối cảnh cụ thể. Quá trình thảo luận, tranh biện luôn xuất hiện các nhân tố mới nên phải đưa ra các can thiệp mới. Ví dụ, trong quá trình thảo luận có người phản đối trên truyền thông và gây “sóng” ngoài xã hội, khi đó dự án sẽ phải có can thiệp tức thì mà nhiều khi trong nội dung dự án không có dòng hoạt động đó. Nếu cứ bám theo khung logic ban đầu để triển khai thì sẽ kém hiệu quả, thậm chí để tuột mất cơ hội vì việc điều chỉnh khung logic và kế hoạch thường mất thời gian.

Như vậy, khung logic phù hợp cho các dự án phần cứng như xây dựng, sản xuất nông nghiệp hoặc tập huấn đào tạo. Các dự án phần mềm như vận động chính sách, truyền thông, hoặc xây dựng năng lực cộng đồng yêu cầu phải có tính linh hoạt. Khi đó, khung logic chỉ nên là một cách tư duy hơn là một công cụ quản lý cứng nhắc. Nếu không nó trở thành còng chân hơn là công cụ để giúp đạt được mục tiêu dự án.