Ngày 5 tháng 1 năm 2015, Quốc hội và Chính phủ chính thức lấy ý kiến nhân dân về Bộ luật dân sự kéo dài trong ba tháng đến hết ngày 5 tháng 4 năm 2015. Đây là một sự kiện quan trọng, thể hiện sự dân chủ hơn trong việc xây dựng pháp luật ở Việt Nam.

Ảnh: đại diện người dân và các tổ chức phi chính phủ góp ý cho Hiến pháp (nguồn: iSEE)
Ảnh: đại diện người dân và các tổ chức phi chính phủ góp ý cho Hiến pháp (nguồn: iSEE)


Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng “nhân dân biết gì mà cho ý kiến”. Họ cho rằng Bộ luật dân sự rất phức tạp về kỹ thuật, ngay nhiều đại biểu quốc hội cũng không hiểu hết triết lý cũng như hàm ý của nhiều điều khoản nói gì đến nhân dân. Lấy ý kiến nhân dân chỉ là dân chủ hình thức, tốn kém và không có ích. Điều này nghe có vẻ hợp lý nhưng thực tình là một cách hiểu hạn hẹp.

Về hình thức, nếu phát nguyên bản dự thảo của Bộ luật dân sự thì đúng là đa số người dân sẽ khó góp ý. Tuy nhiên, họ hoàn toàn có thể hiểu được nếu các khái niệm hoặc điều khoản nếu chúng được diễn nôm, gần gũi với ngôn ngữ đời sống. Ví dụ, “người thứ ba ngay tình” là một khái niệm rất khó hiểu, nhưng nếu diễn giải “là một người bên ngoài tham gia vào một giao dịch dân sự, ví dụ như mua bán nhà đất, nhưng vì bị lừa nên họ mua phải một căn nhà đang sở hữu bởi hai vợ chồng, nhưng người chồng giả mạo chữ ký vợ bán cho họ. Sau này, người vợ phát hiện và khởi kiện, thì người mua là người thứ ba ngay tình, và quyền lợi của họ phải được bảo vệ”.

Tuy nhiên, bản thảo của Bộ luật dân sự hiện có 710 điều. Nếu diễn giải tất cả cho từng người dân thì “quá tải” vì không phải ai cũng quan tâm đến tất cả các nội dung. Một công dân cụ thể chỉ quan tâm đến một số lĩnh vực sát sườn với họ. Ví dụ, một một người phụ nữ bán thịt ở chợ cóc có thể không quan tâm đến các điều khoản về quyền nhân thân, hay quyền thay đổi giới tính của người chuyển giới. Nhưng rất có thể bà quan tâm đến các điều khoản về sở hữu cộng đồng vì dòng họ nhà bà có nhà thờ họ, thuộc sở hữu của cả dòng họ nhưng đang quản lý bởi người trưởng họ. Nếu Bộ luật dân sự không thừa nhận sở hữu cộng đồng (trong trường hợp này là dòng họ) thì có rủi ro là người trưởng họ bán đất dòng họ (vì sổ đỏ mang tên trưởng họ) mà những thành viên khác không thể làm gì. Ngược lại, một người chuyển giới sẽ quan tâm đến quyền nhân thân, nội dung liên quan đến chuyển đổi giới tính, tên họ, nhưng lại không quan tâm đến nội dung sở hữu cộng đồng.

Câu hỏi đặt ra là làm sao biết cần tham vấn ai về nội dung gì? Nếu nhà nước đứng ra hỏi từng người dân xem họ quan tâm đến vấn đề gì, rồi diễn giải nội dung đó ra cho họ hiểu để lấy ý kiến, thì e rằng với hàng chục triệu người dân không có nguồn lực nào làm nổi. Hơn nữa, nếu làm thì sẽ vô cùng tốn kém, không hiệu quả vì có nhiều người sẽ có mối quan tâm chung, mà không nhất thiết tất cả họ đều phải tham gia góp ý. Trong trường hợp này, chỉ cần một số đại diện để thay mặt họ góp ý.

Đây chính là lý do quốc gia cần có các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ, các Hiệp hội để đứng ra đại diện cho thành viên của mình góp ý cho Bộ luật dân sự. Ví dụ, các tổ chức phi chính phủ có thể rất quan tâm đến nội dung về “Pháp nhân phi lợi nhuận” vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc thành lập, hoạt động của họ. Họ là người trong cuộc họ hiểu thực tế và có nhiều góp ý quý báu cho ban soạn thảo. Tương tự như vậy, các tổ chức làm về bảo trợ xã hội cho các nhóm mất năng lực hành vi dân sự rất quan tâm đến nội dung này vì họ phải đại diện pháp lý cho các đối tượng này, còn các doanh nghiệp lại quan tâm đến “quyền sở hữu” vì nó ảnh hưởng đến hợp đồng thương mại, đầu tư, và hoạt động kinh doanh của họ.

Như vậy, việc lấy ý kiến nhân dân không đồng nghĩa với việc phát bản thảo cho từng người dân và bảo họ góp ý. Việc lấy ý kiến nhân dân có nghĩa tạo điều kiện cho các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội dân sự, các chuyên gia tham gia góp ý vào các nội dung ảnh hưởng đến họ, thuộc chuyên môn của họ. Đây chính là nguồn thông tin, kiến thức và kinh nghiệm quý giá đảm bảo chất lượng của Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, điều này chỉ thực sự đạt được nếu có một xã hội dân sự tự do, hoạt động mạnh mẽ và công tâm trong việc đại diện cho các thành phần khác nhau của xã hội. Khi đó, vấn đề góp ý thực sự được xã hội hóa, người dân thực sự làm chủ, và quá trình lấy ý kiến thực sự hiệu quả.