Theo tập quán lâu đời, người Thái ở Sơn La chỉ canh tác nhiều nhất là 2 vụ lúa trên các thửa ruộng của gia đình. Sau khi thu hoạch xong vụ hè thu (khoảng cuối tháng 9, đầu tháng 10 âm lịch), các thửa ruộng được bỏ hoá từ 3 đến 4 tháng trước khi được đưa vào canh tác vụ mới. Đối với các nhà kinh tế nông nghiệp địa phương, tập quán nông nghiệp này bị coi là thực hành gây ‘lãng phí đất’ và ‘lạc hậu’. Vì vậy, khoảng đầu những năm 2000, tham khảo mô hình nông nghiệp ‘hai lúa một màu’ được triển khai khá thành công ở nhiều địa phương vùng đồng bằng, chính quyền của một số huyện đã triển khai chương trình trồng ngô (được gọi là vụ ba) xen vào khoảng thời gian giữa vụ hè thu và đông xuân. Coi đây là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm có thể giúp người dân loại bỏ ‘tập quán cũ’ để ‘xoá đói giảm nghèo’, chính quyền địa phương đã thực hiện một chương trình tuyên truyền rầm rộ trên các phương tiện truyền thông và tại các cuộc họp bản.Tuy nhiên, ngược lại với sự mong đợi của chính quyền, nhiều gia đình đã tìm cách ‘không phải trồng ngô’ trên các thửa ruộng của gia đình.

Ảnh: bỏ hóa là một công đoạn hợp lý của canh tác bền vững (nguồn: internet)
Ảnh: bỏ hóa là một công đoạn hợp lý của canh tác bền vững (nguồn: internet)


Quyết định không trồng ngô vào vụ ba trên ruộng của người dân địa phương không phải do ‘sự lười biếng’ hay ‘thiếu nhận thức’ về cách làm ăn mới của người dân như một số cán bộ địa phương nhìn nhận, mà xuất phát từ sự bất hợp lý của dự án nông nghiệp này. Việc trồng ngô lai trên ruộng trong thời kỳ ‘bỏ hoá’ đã phá vỡ các quy trình kỹ thuật quan trọng có tính chất hiệu quả bền vững trong sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương. Khác với cách nhìn nhận từ bên ngoài, tập quán ‘bỏ hoá’ đồng ruộng trong một khoảng thời gian dài sau khi vụ lúa thứ hai của năm kết thúc không phải là một thực hành ‘gây lãng phí đất’ mà là một công đoạn kỹ thuật trong quy trình canh tác nông nghiệp của người Thái.

Theo tập quán, khi lúa đã làm đòng và bắt đầu ngả sang màu vàng, toàn bộ cánh đồng của mường được tháo cạn nước. Sau khi thu hoạch xong, người dân bắt đầu đốt toàn bộ lượng rơm rạ còn sót lại trên cánh đồng. Tiếp theo đó, toàn bộ diện tích được cày một cách kỹ lưỡng và người dân tiếp tục để cho toàn bộ cánh đồng ở trạng thái khô như vậy trong thời gian từ 1 tháng rưỡi đến 2 tháng. Kế theo công đoạn kỹ thuật này, các gia đình bắt đầu cho nước vào ruộng và mực nước trong các thửa ruộng được duy trì ở mức có thể ngập toàn bộ các sá cày. Công đoạn đầu được gọi là tạc phạn và cộng đoạn hai là uổm phạn. Việc thay đổi có chủ đích trạng thái các thửa ruộng từ khô sang trạng thái ngập nước trong một thời gian dài như vậy tạo ra một “hệ sinh thái nhận tạo” - mượn thuật ngữ của Lansing (1991), có tác dụng chống xói mòn và tái tạo sự màu mỡ cho hệ sinh thái đồng ruộng sau khi các cánh đồng đã được sử dụng để canh tác hai vụ lúa. Bởi vì, theo kết quả nghiên cứu của các nhà nông học “sự thay đổi của mực nước theo chủ đích làm thay đổi chu kì sinh hoá trong đất. Sự thay đổi luân phiên trạng thái ẩm và khô làm thay đổi độ pH của đất, tạo thay đổi lượng ô xy trong đất, yếu tố quyết định đến hoạt động của vi sinh vật, luân chuyển chất dinh dưỡng vô cơ, tăng sự phát triển của tảo ni tơ, loại trừ cỏ dại và làm ổn định nhiệt của đất”.

Ngoài mục đích duy trì và tăng độ phì nhiêu cho đất của hệ sinh thái đồng ruộng, thời kì ‘bỏ hoá’ còn có tác dụng trong việc tiêu diệt sâu bọ không có lợi cho cây lúa. Theo giải thích của người dân, trong khi chu trình kĩ thuật tạc phạn giúp loại bỏ sâu bọ không sống được trong trạng thái khô hạn, thì các loại sâu bọ không sống được trong môi trường nước sẽ bị loại bỏ trong thời gian uổm phạn .

Như chúng ta đều biết, bên cạnh các yếu tố như phân bón, độ màu mỡ của đất thì nước tưới và yếu tố khí hậu trong thời gian cây lúa làm đòng cũng là những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự thành công của các mùa vụ nông nghiệp. Trong điều kiện khí hậu mùa đông với thời gian lạnh kéo dài và tương đối khắc nghiệt của một thung lũng miền núi vùng Tây Bắc, đặc biệt là hiện tượng sương muối, cùng với lượng nước trong các con suối có trữ lượng rất ít vào mùa khô, việc trồng thêm một vụ cây lương thực vào khoảng thời gian này sẽ không được thu hoạch hay cho năng suất thấp.

Cuối cùng, đối với nhiều người, thời điểm bỏ hoá các cánh đồng là khoảng thời gian thực hiện các hoạt động buôn bán nhỏ, đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho đời sống kinh tế của gia đình. Ngoài ra, đây cũng là thời điểm thích hợp để người dân giúp nhau vào rừng lấy gỗ về sửa hay dựng nhà mới, để bán hoặc lấy củi đốt tích trữ cho cả năm. Thời điểm cuối năm cũng là dịp để người dân chuẩn bị và tổ chức các nghi lễ quan trọng của gia đình và cộng đồng.

Câu chuyện về sự thất bại của dự án trồng ngô lai trên ruộng làm nổi bật tầm quan trọng của việc cần phải có một cách nhìn nhận và đánh giá tổng thể tri thức địa phương trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và tri thức địa phương ở các khía cạnh kinh tế-xã hội và văn hoá khác của các tộc người nói chung. Khác với tri thức ‘khoa học’ được hình thành và phát triển chủ yếu trong phòng thí nghiệm, tri thức địa phương được tích luỹ và phát triển thông qua những trải nghiệm trực tiếp của các cá nhân và cộng đồng trong một tiểu môi trường của các mối tổng hoà giữa con người, thảm thực vật, khí hậu, sông ngòi, đất đai, vv., cụ thể nào đó trong một thời gian dài. Loại tri thức này có tính ‘khoa học’ cao vì nó là loại tri thức thực nghiệm và mang tính hệ thống, được hình thành thông qua các trải nghiệm trực tiếp theo cơ chế ‘thử-sai’. Chính vì vậy, để nhìn nhận và đánh giá một cách đúng đắn về vai trò, giá trị của hệ thống tri thức này, cần phải có một cái nhìn tổng thể, đặt hệ thống tri thức này trong mối quan hệ hữu cơ với thành tố tự nhiên, văn hoá và xã hội trong tiểu môi trường cụ thể nó được sản sinh và phát triển.