“Tiến hóa luận” là quan điểm đã được sử dụng bởi các nhà khoa học xã hội từ các thế kỷ 18-19, cho rằng các xã hội đều phát triển từ thấp đến cao theo một thang đo cao thấp nhất định.  Cách nhìn tiến hóa này thấm sâu trong đời sống xã hội của Việt Nam, và trong số 54 dân tộc đang sinh sống ở Việt Nam thì người Kinh được coi là ở mức thang cao nhất. Ví dụ, đối với người Kinh ở huyện Bác Ái, khác với người Chăm là những người ở trình độ phát triển cao hơn (gần bằng người Kinh, thậm chí nhiều người Chăm còn làm ăn giỏi giang hơn) thì người Raglai là những người vừa thoát khỏi cuộc sống du canh du cư “lạc hậu” và mới được tiếp xúc với người Kinh nên hiểu biết của họ không cao.


“Tiến hóa luận” dẫn Việt Nam tiến đi đâu?
“Tiến hóa luận” dẫn Việt Nam tiến đi đâu?

Thậm chí bản thân người dân tộc thiểu số (DTTS) cũng nhìn nhận dân tộc mình và các DTTS khác trong nấc thang tiến hóa. Một cô giáo người Chăm và giáo viên người Thái nhận xét về người Raglai và Khơ-mú “Để thoát khỏi cảnh nghèo thì họ phải tiến theo người Kinh. Nhưng em nghĩ rằng người Raglai mất 50 năm nữa cũng chẳng tiến kịp người Kinh đâu, người Chăm thì tiến bộ hơn nhưng cũng không biết mất bao lâu” hay “Tôi cho rằng người Khơ-mú vẫn còn mông muội lắm, chỉ giống như trong giai đoạn nguyên thuỷ thôi”


Không chỉ người Kinh cho rằng người DTTS ở giai đoạn phát triển thấp hơn họ, mà họ cũng cho rằng người Kinh không văn minh bằng người phương Tây. Như vậy, quan điểm tiến hóa đã không chỉ biến người DTTS là “nạn nhân” mà bản thân người Kinh cũng trở thành nạn nhân trong mục tiêu hướng lên tiến kịp các phát triển theo kiểu phương Tây. Người DTTS trở nên tự ti trước người Kinh, còn người Kinh cũng có tư tưởng tự ti trước người nước ngoài, coi họ là văn minh hơn mình.        


Một quan điểm khá phổ biến ở Việt Nam là phát triển là phải gắn với đời sống kinh tế thị trường và khoa học kỹ thuật. Đối với đồng bào DTTS, phát triển phải gắn với các kỹ thuật trồng cấy mới, các loại giống lai có năng suất cao, phải sử dụng phân bón, và phải có sản phẩm bán ra thị trường, và chỉ có như thế mới “tiến bộ”. Điều đáng chú ý là không chỉ người Kinh mà bản thân người DTTS cũng tin rằng văn hóa theo kiểu người Kinh là kiểu mẫu cần hướng đến. Cô giáo người Chăm ở Ninh Thuận nhiệt thành giải thích vì sao chỉ có trồng lúa nước mới là tiến bộ. “Dù văn hóa của họ rất là khác thì họ vẫn phải nên phát triển theo người Kinh, giống như cái khẩu hiệu bên khuyến nông đấy. Người ta dán khẩu hiệu bên trường đây này: để thoát khỏi cảnh nghèo thì tất cả người dân phải trồng trọt tốt. Thứ nhất tại vì phải theo cái nhu cầu, theo cái cách sống của họ là nghề nông là chính, thì họ cũng phải có kế hoạch trồng trọt tốt là đúng rồi, phải biết kỹ thuật, biết kỹ năng trồng trọt là thế nào để được ví dụ như vụ mùa của mình được tốt hơn. Trước kia thì họ đâu có biết trồng lúa nước đâu đúng không, về sau này thì có chính sách này kia thì họ mới biết. Bây giờ họ làm rẫy đó, họ thu hẹp rẫy lại để lấy cái đất đó để trồng lúa nước hết, thì tiến bộ hơn….Nếu không trồng lúa nước thì cuộc sống vẫn tiến bộ chậm lắm! Tại vì cứ suốt ngày là rẫy, rồi bò. Đâu có tiếp xúc với ai đâu, họ cứ canh tác bằng cái đó thì họ lấy cái bo bo, sắn rồi bắp, họ lấy họ đổi lấy lương thực, đâu phải là ăn mấy cái đó không thôi; thì họ phải xuống bằng, họ lấy một đống đồ đó họ xuống họ đổi cơm, đổi cá. Cũng giống như hồi xưa thời nguyên thủy không, trao đổi thức ăn đó làm sao họ tiến bộ cho được! Đó, thế nên phải trồng lúa nước rồi nuôi trồng kỹ thuật ví dụ như chăn nuôi thêm, ai có ao thì nuôi cá, rồi thì trồng rau, trồng rau rồi nuôi cá, nuôi gà vịt, chăn bò”.


Tư tưởng Nho giáo cũng có ảnh hưởng khá lớn tới các quan điểm về chính sách của Việt Nam, trong đó có vấn đề về DTTS. Một nhà nghiên cứu nước ngoài lâu năm về DTTS đã nhận xét rằng ở Việt nam, ẩn dụ Nho giáo đã biến mô hình gia đình vào mô hình quốc gia dân tộc:  “câu chuyện “chính thức” về dân tộc đa sắc tộc của Việt nam, trong đó khái niệm dân tộc được hình dung như một gia đình mà người Kinh là người anh cả, và các (dân tộc thiểu số) em, trong đó, người anh cả cần phải vừa đóng vai trò rộng lượng và cả vai trò giữ kỷ luật. Cách thể hiện này về các dân tộc thiểu số như những người em nhỏ tuổi hơn – điều đã dẫn dắt chính sách nhà nước về người thiểu số ngay từ ban đầu – được đưa ra trong khái niệm hiện tại về sự lạc hậu và mê tín dị đoan”. 


Khi nói về người Raglai, một cán bộ xã chia sẻ “Phải chăm lo cho họ thôi chứ biết làm sao, ví dụ trong một gia đình mình đẻ ra được 4 đứa con mà trong đó 3 đứa con ngoan, 1 đứa nó không nghe lời, nó quậy phá, nó gan, nó lì thì chẳng lẽ mình làm cha làm mẹ mình bỏ nó, nó cũng là con mình, ai cũng vậy, xã hội sống vậy, bây giờ cái cơ quan nhà nước của mình, bây giờ họ cấm như vậy, thì họ có dù sao đi chăng nữa mình cũng phải chăm lo cho họ, nó là vậy”, và “rõ rang là gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, thì mình bỏ mặc họ đâu có được. Mặc dù có thể là mình tiến lên 10 thì họ cũng phải 5 chứ, dù sao vẫn còn hơn là họ mới nơi một!


Một cán bộ ở Chợ Mới, Bắc Cạn thì cho rằng vì người DTTS rất đáng thương, nên cần phải giúp đỡ. “Họ cũng có những cái thiệt thòi, anh chị cứ đi vào ngay bên trong cách đây tầm khoảng hơn chục cây thôi anh chị thấy ví dụ như mùa đông mình ăn mặc như này nhưng vào trẻ con đầu thì bơ phờ xong bắt đầu thì cởi truồng mặc mỗi cái áo ngắn đến đây thôi.  Bởi vì Cởi truồng cho việc ỉa đái tiện không phải giặt giũ, bé tí thì no thích đái ở đâu thì cứ thế tiểu tiện thôi. Cho nên đấy nhìn nó cũng rất là thương hại cho nên người ta cũng không được, về kinh tế người ta cũng thiệt thòi rồi, khoa học kĩ thuật, thông tin các thứ, nói chung là người ta cũng còn nhiều thiệt thòi. Nếu mà mình có điều kiện, mình đưa vào mình giúp đỡ người ta thì cũng là cái rất là tốt.


Như vậy, cùng với tư tưởng phát triển theo kiểu tiến hóa là tâm lý và lối tư duy về một “hệ các thực hành văn hóa – xã hội thấp kém” (cultural inferiority), lối tư duy và xu hướng tâm lý tồn tại phổ biến ở các tộc người đa số trên thế giới khi họ nghĩ về các tộc người thiểu số.


Nguy hiểm hơn, cách nhìn văn hóa của tộc người theo thang cao-thấp như thế này đã được chuyển hóa vào trong các chính sách của nhà nước, cũng như trong truyền thông. Và niềm tin rằng người DTTS là những người cần được giúp đỡ bởi họ còn ở giai đoạn thấp của sự phát triển đã dẫn đến một số các chính sách áp đặt đối với người dân tộc. Vì vậy, có cán bộ khẳng định rằng nếu có phải hy sinh mất mát gì đó để họ nhận thức ra thì cũng cần phải làm. Nói về việc người Kinh “lừa” lấy mất đất của người Raglai, một cán bộ xã nói “Đôi lúc nó có mặt trái của nó, ví dụ như trường hợp buôn bán giữa người Kinh và người Raglai thì nói thẳng là người Raglai mất mát về vấn đề tài sản nhưng được cái họ hiểu được.”

Dường như thời của thực dân đã đi qua lâu rồi nhưng tư tưởng của nó vẫn còn vương lại, và thực hành trong chính con người Việt Nam.