Trong các nhà nước pháp quyền, nguyên tắc “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” là nền tảng cho sự phát triển của xã hội. Hiến pháp và pháp luật được xây dựng dựa trên ý chí và thỏa thuận của nhân dân nhằm quy định rõ việc nhân dân là chủ thể và nhân dân trao cho nhà nước những trách nhiệm gì.


Một triết lý quan trọng của Hiến pháp đó là bảo vệ quyền tự do của nhân dân và hạn chế việc lạm quyền của nhà nước. Triết lý này xuất phát từ thực tế là nhà nước có bộ máy hành chính, an ninh, quân đội và nguồn lực tài chính trong tay, còn nhân dân thì không. Chính vì vậy, nhà nước và công chức có cơ hội và xu hướng lạm dụng quyền lực của mình để trục lợi hoặc xâm phạm quyền con người và quyền công dân. Nếu không quy định rõ ràng quyền hạn của nhà nước thì việc vi phạm sẽ tràn lan, khó giải quyết và dẫn đến oan sai và rối loạn xã hội.

 

Triết lý này được diễn giải trong nhiều bản Hiến pháp khác nhau trên thế giới. Ví dụ trong Hiến pháp Hoa Kỳ ở điều bổ sung sửa đổi thứ 1 ghi rõ “Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.” Như vậy, Hiến pháp Hoa Kỳ giới hạn rất rõ ràng quyền lực của nhà nước và bất cứ một văn bản pháp luật nào nhằm hạn chế quyền tự do vì bất cứ điều gì sẽ là vi hiến và bị loại bỏ.

 

Trong bản Hiến pháp 1992 sửa đổi, Việt Nam cũng đang nỗ lực làm rõ giới hạn quyền lực của nhà nước và bảo vệ quyền tự do của nhân dân. Một số điều khoản mới như điều 45 quy định “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” rất tiến bộ. Điều này cho phép một số tộc người như Bru và Vân Kiều, Cao Lan và San Chí có thể lấy lại tên gọi của mình, không còn bị ghép lại trong Bru-Vân Kiều hay Sán Chay như hiện tại. Điều này đảm bảo quyền sinh tồn, có bản sắc riêng của các dân tộc về ngôn ngữ, thực hành văn hóa, tín ngưỡng. Như vậy, theo điều 45 này bất cứ một sự áp đặt nào của nhà nước trong việc ghép nhóm dân tộc sẽ bị coi là vi hiến và phải loại bỏ.

 

Tuy nhiên, chương II về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân chưa triệt để xây dựng dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền tự do của cá nhân và hạn chế cơ hội lạm dụng quyền lực của nhà nước. Nhiều điều nói về quyền con người nhưng vẫn giao cho pháp luật quy định cụ thể sau này. Ví dụ như điều 26 viết “công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.” Pháp luật được hiểu là luật, nghị định, thông tư và thậm chí là nghị quyết mà trên thực tế có thể vi phạm quyền con người nhưng được hiểu là không vi hiến.

 

Hiện nay, đa số các luật và văn bản pháp luật được xây dựng bởi Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân các cấp. Là người chắp bút, chắc chắn các cơ quan hành pháp không thể tránh khỏi xu hướng bảo vệ quyền và lợi ích của mình (cơ quan quản lý nhà nước) và hạn chế quyền tự do của công dân. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến những đề xuất như ghi họ tên cha mẹ lên giấy chứng  minh thư, hoặc hạn chế nhập cư vào nội đô thành phố. Những điều này phục vụ sự dễ dàng của người quản lý nhưng gây khó dễ, thậm chí là vi phạm quyền riêng tư hay quyền tự do cư trú của công dân.

 

Các cơ quan có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật như Mặt trận tổ quốc, các Ủy ban của Quốc hội hay đại biểu Quốc hội hầu như chưa thực hiện quyền lập pháp của mình. Từ trước đến nay chỉ có hai luật là Luật Giao dịch điện tử của Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường và Luật Bình đẳng giới của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội sọan thảo. Chưa có cá nhân Đại biểu Quốc hội tự soạn thảo, bảo trợ soạn thảo và trình dự án luật ở Việt Nam. Như vậy, các đại biểu dân cử hoặc các cơ quan đại diện cho quyền lợi của nhân dân chưa xây dựng pháp luật. Đây chính là một trong các lý do làm cho nguyên tắc bảo vệ tự do của nhân dân và hạn chế quyền lực của nhà nước chưa được áp dụng triệt để.

 

Điều này càng bất cập vì ở Việt Nam việc giám sát các văn bản pháp luật xem có vi hiến không đang được trao cho rất nhiều cơ quan khác nhau, chủ yếu nằm ở các bộ ngành thuộc chính phủ. Họ làm công tác tiền kiểm hơn là hậu kiểm nên những vi phạm khi thực hiện chưa được giám sát và phán quyết kịp thời. Điều này làm phát sinh nhu cầu phải xây dựng một cơ quan bảo hiến độc lập nhằm đảm bảo việc xây dựng và thực thi pháp luật không vi hiến, hay nói cách khác không xâm phạm quyền con người, quyền tự do của công dân.

 

Như vậy, để tránh những  bất bình trong xã hội với những văn bản pháp luật vi hiến thì ngoài việc tạo ra các thể chế độc lập để giám sát hay các cơ quan lập pháp cần chủ động xây dựng luật thì việc áp dụng nguyên tắc bảo vệ tuyệt đối tự do của nhân dân và hạn chế tối đa sự lạm quyền của nhà nước phải trở thành văn hóa làm luật ở Việt Nam. Đây cũng chính là nguyên tắc để nhân dân, các tổ chức xã hội dân sự và các cơ quan thể chế độc lập sử dụng để đánh giá chất lượng phục vụ nhân dân của các văn bản pháp luật ban hành.