Văn hóa là những “trầm tích” đúc kết bởi những sáng tạo trong cuộc sống làm cơ sở để con người suy nghĩ và hành động, thích nghi và phát triển. Văn hóa là những gì con người có, nghĩ và làm. Như vậy, văn hóa được tạo ra bởi con người để phục vụ con người.

Ảnh: Lễ hội Nghinh Ông tưởng nhớ công ơn của loài cá voi của ngư dân Việt Nam


Văn hóa được duy trì và truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác qua nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ trong gia đình người Kinh, các giá trị như thờ cúng tổ tiên ông bà, lễ nghĩa hay hiếu hỉ được truyền qua các thực hành hàng ngày. Không nhà trường nào dậy hay nhà nước nào hướng dẫn, nhưng các gia đình người Kinh đều biết cúng Tết ông công ông táo hay làm Lễ giỗ cha mẹ, ông bà đã mất. Trong gia đình người Dao, nhiều bài thuốc cổ truyền được truyền từ mẹ sang con một cách tự nhiên qua nhiều lần đi nương đi rẫy. Những giá trị văn hóa khác như hát then của người Tày hay múa sạp của người Thái cũng được truyền trong dòng họ và cộng đồng. Đây chính là cách văn hóa được tiếp nối, duy trì và phát triển.

Một hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng rất lớn đó là lễ hội. Lễ hội thể hiện và duy trì những khát khao và giá trị đạo đức mà nhân dân muốn hướng tới. Những lễ hội làng tưởng nhớ những vị anh hùng đánh giặc, giúp dân, giúp nước được tổ chức nhằm duy trì giá trị “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây.” Những lễ hội như Lễ Minh Thệ tại Hải Phòng có từ lâu đời để quan lại thề với thánh thần là không ăn hối lộ, nhân dân thề không trộm cắp của người khác. Đây chính là cách để các giá trị đạo đức, làm việc tốt được duy trì và tiếp nối.

Chính vì vậy, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đã khẳng định lễ hội nói riêng và văn hóa phi vật thể nói chung “được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”.  Lễ hội sống trong cộng đồng và được duy trì bởi cộng đồng như GS. Ngô Đức Thịnh đã nói “Hàng ngàn năm nay người dân đã sáng tạo và duy trì lễ hội. Không ai hiểu lễ nghi bằng chính họ, cũng như không ai hiểu lễ nghi bằng chính những người sáng tạo ra nghi lễ đó… Khi trao lễ hội cho người dân, hãy để tự người dân bầu lên ban đại diện của mình”

Nhân dân tự tổ chức lễ hội của mình để khẳng định quyền sở hữu của họ. Ngoài ra, nó còn giúp họ truyền dậy những giá trị và nghi lễ cho các thế hệ sau. Các cụ già khi chuẩn bị và tiến hành lễ hội sẽ rao giảng lại cho lớp thanh niên tại sao phải làm kiệu như thế này, cờ như thế kia; các lễ nghi có ý nghĩa gì, và tại sao các giá trị này cần phải gìn giữ. Đây chính là cách lễ hội được truyền đời và các giá trị văn hóa, truyền thống và quy định xã hội được duy trì trong cộng đồng.

Chính vì vậy, nếu lễ hội bị tách ra khỏi cộng đồng thì lễ hội sẽ mất tính “thiêng” và từ đó mất tính giáo dục về các giá trị đạo đức. Khi nhà nước tham gia vào quản lý hoặc “bảo tồn” văn hóa lễ hội, yếu tố cộng đồng làm chủ vô cùng quan trọng. Nếu nhà nước hành chính hóa việc tổ chức lễ hội thì cái hồn của lễ hội sẽ biến mất vì lễ hội là của dân gian, là do cộng đồng tổ chức nhằm duy trì những luật lệ hoặc truyền thống. Khi lễ hội trở nên hình thức thì người dân không còn làm chủ nữa và lễ hội không còn giá trị của nó nữa. Nhân dân tham gia lễ hội như những vị khách hơn là chủ thể để rèn luyện những giá trị đạo đức như mục đích ban đầu của lễ hội đề ra.