Mười năm trước đây, Việt Nam là một nền kinh tế mới nổi được ví như con hổ châu Á. Những hy vọng được các nhà đầu tư, đối tác nước ngoài đặt vào Việt Nam qua những con số ấn tượng. Tỉ lệ tăng trưởng 7-8% một năm, tỉ lệ giảm nghèo 1-2% một năm. Việt Nam là “con cưng” của các nhà tài trợ vì tốc độ tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo. Các nhà đầu tư coi Việt Nam là điểm đến hứa hẹn vì ổn định chính trị và tiềm năng con người. Mọi người tin rằng Việt Nam đang cất cánh vì những “gông xiềng” thời quan liêu bao cấp đã được tháo bỏ, mọi người được tự do làm ăn.

Ảnh: đại diện các tổ chức Xã hội dân sự trao kiến nghị hiến pháp sửa đổi cho Ban soạn thảo


Chính sự phát triển ấn tượng của Việt Nam đã làm cho người Việt tràn đầy hy vọng. Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua, và ngày mai chắc chắn sẽ tốt hơn ngày hôm nay. Đó là một Việt Nam tự tin, tự hào khác với một Việt Nam tự ti vì sự đói nghèo xưa kia của mình. Những “tam quyền phân lập” hay “giám sát độc lập” hoặc “xã hội dân sự” không phải là nhu cầu và không phải là điều cần thiết cho phát triển. Điều này được thể hiện trong diễn ngôn của nhà nước, và phần nào cũng được “thỏa hiệp” trong diễn ngôn của các nhà tài trợ, các tổ chức song phương, hay cả các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Các báo cáo về phát triển của ngân hàng thế giới hay Liên hợp quốc đều giành những lời khen ngợi cho Việt Nam. Những khuyến cáo cải cách có được đưa ra chỗ này, chỗ kia nhưng mờ nhạt vì “thành công là chủ yếu, cải cách chỉ là để tăng thêm hiệu quả” mà thôi.

Trong bối cảnh người Việt tự hào vì từ trước đến nay chưa bao giờ “vị thế quốc gia lại được nâng cao đến thế” và chính phủ Việt Nam tin tuyệt đối vào sự đúng đắn của mình, thì những khuyến cáo lẻ tẻ không thể lọt tai. Mọi người đều tin rằng, một chính phủ mạnh sẽ làm được nhiều việc. Chỉ cần một chính sách tốt là tạo ra ảnh hưởng trên toàn quốc gia. Mọi nỗ lực được tập trung vào nâng cao năng lực cho hệ thống của chính phủ. Chính phủ trở thành con cưng được chiều chuộng và tán dương. Toàn bộ quốc gia lao về phía trước với mục đích tăng trưởng GDP là duy nhất, là tối thượng. Những can ngăn, những cảnh báo, những đề xuất chỉ là “trái chiều”, “vô căn cứ” hoặc thậm chí là “phản động” vì rõ ràng Việt Nam đang tăng trưởng vù vù.

Trong thời gian này, các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam cũng dần dần phát triển. Tuy nhiên, họ là những tổ chức nhỏ và nhiều tổ chức được tạo ra để triển khai những dự án của các tổ chức Phi chính phủ nước ngoài. Nhiều tổ chức được coi là nhà thầu phụ, thực hiện các dịch vụ phát triển. Họ không được nhìn nhận như những tổ chức tham gia vào đời sống dân sự và chính trị. Trong những năm 2000, hầu như không có nhà tài trợ nào quan tâm đến phát triển xã hội dân sự, hoặc đẩy mạnh vai trò của xã hội dân sự. Khi mọi người tin vào một nhà nước mạnh, một nhà nước thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và đặc biệt là duy trì ổn định, tạo điều kiện cho đầu tư tư nhân và nước ngoài, thì hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự để làm gì?

Những năm qua, xã hội dân sự Việt bị lề hóa và chèn ép bởi diễn ngôn “ổn định” và “phát triển kinh tế.” Xã hội dân sự được “giao nhiệm vụ” làm những việc mà nhà nước không với tới, có nghĩa là “không quan trọng” và “nhỏ lẻ” như giúp người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người di cư. Hơn nữa, xã hội dân sự bị xem như là một lực lượng cản trở phát triển vì luôn phản biện nhà nước, kích động nhân dân và gây bất ổn xã hội. Chính vì vậy, các chính sách của nhà nước cũng như những hỗ trợ của các nhà tài trợ, đều cổ xúy cho một xã hội dân sự cung cấp dịch vụ cho người nghèo, làm các công việc từ thiện và lấp những lỗ hổng của hệ thống nhà nước.

Các tổ chức xã hội dân sự cũng hài lòng với vai trò “được giao” của mình. Họ tin rằng, đó là điều tốt nhất mình có thể làm. Họ xây dựng mô hình phát triển kinh tế ở thôn bản, thúc đẩy sự tham gia của người dân, đặc biệt là phụ nữ và người nghèo. Họ đúc kết kinh nghiệm, tổ chức hội thảo để chia sẻ bài học với chính phủ và các nhà tài trợ, hy vọng các bài học sẽ được áp dụng bởi nhà nước và các dự án của chính phủ có tài trợ của nước ngoài. Trong cả thập kỷ, các tổ chức xã hội dân sự hài lòng với vai trò bên lề của mình, đúng như nhà nước mong đợi.

Sự việc bắt đầu trở nên không ổn khi kinh tế khủng hoảng, văn hóa xã hội suy đồi. Hơn một thập kỷ phát triển kinh tế, tạo ra của cải, tài sản nhưng không có cơ chế kiểm soát. Tham nhũng, lạm quyền, cấu kết và thâu tóm nguồn lực công trở nên phổ biến, thậm chí ở mức đe dọa sự phát triển của dân tộc. Bây giờ, tất cả mới nhận ra rằng Việt Nam cần biết bao sự phản biện, sự giám sát độc lập mà xã hội dân sự có thể cung cấp.

Trong các nền dân chủ, ngoài một nhà nước mạnh, một khu vực kinh tế tự do, cần một xã hội dân sự độc lập. Xã hội dân sự, được hiểu như những sinh hoạt tự do của công dân, ngoài nhà nước và thị trường, để trao đổi ý tưởng, phản biện chính sách, và bảo vệ quyền con người, đặc biệt những nhóm yếu thế. Nếu không có những hoạt động dân sự tự do, nhà nước dễ dàng lạm quyền, doanh nghiệp dễ dàng cấu kết để trục lợi, và đất nước dễ dàng lạc lối. Xã hội dân sự, là môi trường cần thiết để các bộ óc thông thái, độc lập, và nhân văn tụ họp, sản sinh ý tưởng và hiến kế cho nhà nước. Hơn nữa, hoạt động xã hội dân sự, chính là môi trường để rèn luyện và phát hiện nhân tài lãnh đạo, tạo ra thủ lĩnh xã hội và chính trị. Xã hội dân sự là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bền vững của bất cứ quốc gia nào.

Hơn lúc nào hết, trong khủng hoảng Việt Nam cần đoàn kết để tụ hợp ý trí, nguồn lực và những giải pháp đột phá. Điều này chỉ có thể xảy ra khi các lực lượng xã hội được tự do, vượt khỏi những rào cản giáo điều, biên giới tư tưởng và khác biệt về nguồn gốc. Khi đó, xã hội sẽ có những phản biện sắc nét, những sáng kiến đột phát, và những luồng sinh khí mới để kết nối cả dân tộc, tạo đà vượt qua khủng hoảng và cất cánh thực sự. Trong hoàn cảnh này, chính xã hội dân sự phải tự làm mới mình, phát triển để đảm nhiệm sứ mệnh của mình. Xã hội dân sự không nên chờ đợi sự cho phép hay hỗ trợ rồi mới phát triển. Xã hội dân sự phải tự vươn lên qua quá trình nội sinh, tự nhiên và xuất phát từ cuộc sống.

Chúng ta đã lãng phí mười năm say xưa với tăng trưởng kinh tế, không tạo dựng một xã hội dân sự vững mạnh, một môi trường tự do hội họp, tranh luận và phản biện. Chúng ta đã quá tin vào mô hình phát triển của mình, đắm chìm trong lời khen của các nhà tài trợ để trượt dài thảm hại. Mười năm đã mất, nên chúng ta không thể mất thêm một năm nào nữa. Dịp sửa Hiến pháp là cơ hội lớn để đoàn kết toàn dân, giống như tinh thần của Hội nghị diên hồng năm 1284 khi Thượng hoàng Trần Thánh Tông trưng cầu dân ý. Đây chính là vận mệnh mà chúng ta không nên bỏ lỡ!