Ở nông thôn Việt Nam, sự tồn tại và phát triển của các hội, phường rất phong phú. Nó là nền tảng xã hội dựa trên các mối quan hệ qua lại, giúp đỡ lẫn nhau khi khó khăn. Khác với người thành phố, nơi các dịch vụ có sẵn, người nông thôn phải dựa vào quan hệ hàng xóm láng giềng, họ hàng, hay hội phường để có được sự giúp đỡ khi khó khăn. Trong nhiều trường hợp, mối quan hệ này vươn tới chính quyền cấp tỉnh hoặc trung ương nhằm mang lại lợi ích cho địa phương. Đây chính là khái niệm vốn xã hội mà nhiều nhà khoa học xã hội có nói đến.


Ảnh: Ngài đại sứ Úc Huge Borrowman đến dự lễ khai mạc triển lãm "Mở Bằng Yêu" ủng hộ quyền của người đồng tính


Việc hình thành vốn xã hội phụ thuộc rất nhiều vào môi trường thể chế và chính trị của từng địa phương. Nếu chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho vốn xã hội phát triển cũng có nghĩa là họ tạo điều kiện cho việc hình thành một cơ sở hạ tầng xã hội cho các dự án phát triển. Ngược lại, nếu chính quyền địa phương ngăn cản việc hình thành mạng lưới, thì có thể dẫn đến những  khó khăn trong việc cộng đồng người dân tự giải quyết các vấn đề của mình. Nếu chính quyền địa phương và người dân cùng đồng hành thì vấn đề sẽ được giải quyết nhanh hơn, và hiệu quả sẽ cao hơn.

Elinor Ostrom cho rằng cả nhà nước và nhân dân có vai trò tương trợ lẫn nhau trong việc tạo ra các dịch vụ xã hội. Hiện không có quốc gia nào mà nhà nước là nơi duy nhất cung cấp các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, và cơ sở hạ tầng vệ sinh. Người dân hoàn toàn có thể tự tổ chức để tham gia vào việc phát triển kinh tế, xã hội và chính trị ở địa phương mình. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa việc người dân có quyền tham gia là đủ, mà họ phải được là một phần trong việc tạo ra và cung cấp các dịch vụ công này.

Các nhà nghiên cứu như Fox, Ostrom và Michael Woolcock đều cho rằng vốn xã hội sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro, hạn chế ảnh hưởng của các cú sốc và tăng cơ hội cho xã hội nói chung. Các nghiên cứu chỉ ra rằng các quốc gia có thể chế tốt và có vốn xã hội tốt thì sẽ phát triển bền vững hơn. Vốn xã hội giàu có sẽ giúp xã hội có ít phân chia hơn, bình đẳng hơn, nên cũng sẽ có dòng chảy thông tin, ý tưởng và nguồn lực tốt hơn.

Jonathan Fox cho rằng có hai loại vốn xã hội được hình thành theo chiều ngang và theo chiều dọc. Vốn xã hội ngang là các mạng lưới địa phương, thường được hình thành trong một địa bàn hẹp như làng, xã. Vốn xã hội dọc được hình thành khi các mạng lưới địa phương được phát triển, và kết nối với các mạng lưới ở cấp tỉnh, quốc gia hoặc thậm chí cấp khu vực và quốc tế. Các nhóm xã hội, đặc biệt là các nhóm yếu thế, để có thể tham gia vào quá trình vận động chính sách hoặc gây ảnh hưởng cho việc phân bổ nguồn lực, họ cần phát triển vốn xã hội dọc. Nói cách khác, vốn xã hội dọc sẽ giúp cho các thành viên có thể tiếp cận thông tin tốt hơn, tận dụng kỹ năng sẵn có tốt hơn, và gây ảnh hưởng lớn hơn.

Trong tất cả các quyền, quyền tự do lập hội là đặc biệt quan trọng trong phát triển vốn xã hội. Còn xét trên khía cạnh nội sinh, các nhóm phải có khả năng chia sẻ những bất bình, lợi ích chung, ý tưởng và chiến lược để tạo ra mạng lưới xã hội và tập hợp lực lượng. Trong một nghiên cứu của mình, Andrew cho thấy những người dân có lợi ích từ việc tập thể dục trong công viên Thống Nhất ở Hà Nội đã tạo thành một mạng lưới phản đối việc xây khách sạn và khu giải trí thu tiền của chính quyền địa phương. Họ hình thành nên mạng lưới ngang và dọc, tận dụng được các mối quan hệ với truyền thông báo chí để gây sức ép thành công lên chính quyền địa phương, dẫn đến dự án bị hủy bỏ. Tương tự như vậy, cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới đã kết nối với nhau, hình thành các quan hệ với báo chí truyền thông, các nhà hoạch định chính sách và thành công trong việc đưa quyền của người đồng tính và hôn nhân cùng giới vào nghị trình chính trị của Chính phủ và Quốc hội. Điều này sẽ không thể xảy ra nếu cộng đồng người đồng tính không có vốn xã hội của mình, những quan hệ ngang dọc được tạo ra trong quá tình vận động.

Một điều kiện nữa để vốn xã hội hình thành và phát triển, đó là khi giới lãnh đạo tinh hoa bị chia rẽ. Nó tạo cơ hội cho các đòi hỏi về chính trị, quyền tự do dân sự và sự minh bạch trong chính phủ. Nếu nhóm bảo thủ trong chính quyền cố gắng đàn áp những phong trào đòi quyền, thì nhóm cải cách sẽ khuyến khích các hành động tập thể bằng nhiều cách, trong đó có rò rỉ thông tin hoặc hạn chế những đàn áp “nặng tay” nhằm giảm những nguy hiểm của việc đòi quyền gặp phải. Tuy nhiên, việc chia rẽ trong tầng lớp lãnh đạo chỉ tạo điều kiện thuận lợi hơn chứ không phải là điều kiện tiên quyết tạo ra thay đổi. Cuối cùng, chính sự vận động của các mạng lưới và vốn xã hội mới đưa lại những thay đổi bền vững và lâu dài.

Vốn xã hội có thể mang lại lợi ích như một giá đỡ cho người dân, đặc biệt ở những nơi dịch vụ công còn yếu. Nó cũng có thể được hình thành ở nhiều cấp độ khác nhau để làm những việc khác nhau, chung quy lại là bảo vệ quyền và lợi ích của thành viên. Để phát triển, ngoài khung pháp lý như quyền lập hội, vốn xã hội cũng cần có lãnh đạo cộng đồng để phát huy các quan hệ xã hội, tận dụng thông tin cũng như kỹ năng sẵn có của mạng lưới phục vụ cho lợi ích của mình.