Michael Woolcock tin rằng cộng đồng nào sở hữu nhiều mạng lưới và hội nhóm dân sự thì có khả năng cao hơn trong việc xóa bỏ đói nghèo, chống lại rủi ro thiên tai, và giải quyết các xung đột xã hội. Các cộng đồng này cũng có khả năng tạo ra hoặc tận dụng các cơ hội do môi trường mang lại. Đây là những đặc tính mà một cộng đồng thiếu vắng các tổ chức xã hội dân sự không có.

Ảnh: vốn xã hội sinh ra khi con người tương tác với nhau (nguồn: RC facebook)
Ảnh: vốn xã hội sinh ra khi con người tương tác với nhau (nguồn: RC facebook)


Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, các nhà kinh tế cổ điển như T. W. Schultz và Gary Becker đưa ra khái niệm vốn con người (human capital), cho rằng một xã hội có những công nhân được đào tạo, giáo dục và sức khỏe tốt thì sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất tốt hơn. Vốn con người là những kỹ năng và tố chất của cá nhân con người, sở hữu bởi cá thể cụ thể.

Vốn xã hội (social capital) nằm ở trong các mối quan hệ giữa người với người. Vốn xã hội không những bao gồm các cấu trúc của mạng lưới và các quan hệ xã hội, mà còn bao gồm các thuộc tính như sự tin tưởng, trung thực, hay nguyên tắc “có đi có lại”. Sự sinh ra hay mất đi của vốn xã hội cũng phụ thuộc vào chất lượng của thể chế như “pháp quyền”, “mức độ tuân thủ hợp đồng” hoặc “tự do dân sự”. Theo Robert D. Putnam, thì cộng đồng nào có vốn xã hội giàu có thì dễ dàng hơn trong việc hợp tác, triển khai các hoạt động thiện nguyện, và thúc đẩy người dân tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng.

Gần đây, Dani Rodrik và William Easterly cung cấp các bằng chứng mạnh mẽ chứng minh vai trò của vốn xã hội trong tăng trưởng kinh tế. Hai ông cho rằng tăng trưởng kinh tế nói chung và khả năng giảm thiểu tác hại của các cú sốc kinh tế nói riêng là sản phẩm tương tác của sức mạnh các thể chế công và sự giàu có của vốn xã hội. Các quốc gia bị chia rẽ bởi sắc tộc, bất bình đẳng kinh tế hoặc đàn áp tiếng nói chính trị, nếu có một chính phủ yếu, tham nhũng nữa thì rất dễ bị sụp đổ tăng trưởng kinh tế.

Các thuộc tính của vốn xã hội, ví dụ như lòng tin, được gọi là cội nguồn của đạo đức, như cách gọi của Albert Kirschman, một cội nguồn mà khi càng dùng thì càng được sinh ra và tăng lên, ngược lại bị cạn nếu không được sử dụng. Đây là một nguyên lý đơn giản vì nếu hai người hợp tác dựa vào lòng tin thì sự tin tưởng càng tăng lên theo thời gian. Nguyên lý này cũng đúng cho các đặc điểm khác của vốn xã hội, như quy tắc ứng xử và sức mạnh mạng lưới, nó sẽ tăng lên khi sử dụng và mất đi nếu không sử dụng.

Rõ ràng, các yếu tố của vốn xã hội như sự tin tưởng, quy tắc ứng xử và mạng lưới là hàng hóa công, không giống như vốn con người hoặc các loại vốn truyền thống khác là của riêng. Cũng giống như các loại hàng hóa công khác, vốn xã hội thường bị đánh giá thấp hơn giá trị thực của nó. Chính vì vậy dẫn đến việc thiếu đầu tư vào việc tạo ra vốn xã hội. Để tạo ra nhiều vốn xã hội thì cần phải có nhiều hoạt động xã hội, dân sự, nơi con người giao lưu, tương tác với nhau để tạo ra sự tin tưởng, chia sẻ, và xây dựng các nguyên tắc đồng thuận, tích cực và hướng tới mục đích chung.

Như vậy, vốn xã hội có thể coi là dung môi cho các hợp tác dân sự. Trong cuộc sống chúng ta cần phải có hợp tác giữa hành pháp và lập pháp, giữa công nhân và quản lý, giữa các tổ chức xã hội dân sự và nhà nước, giữa chính phủ và doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau. Nếu tất cả các quan hệ hợp tác đều phải sử dụng hợp đồng, giám sát và thực thi bởi bên thứ ba thì sẽ đòi hỏi chi phí khổng lồ, và tính khả thi gần như không có. Điều này được giải quyết bởi sự tin tưởng. Hay nói cách khác, vốn xã hội là chất bôi trơn giúp cho các mối quan hệ được diễn ra trơn tru. Mức độ tin tưởng của một cộng đồng càng lớn thì khả năng hợp tác càng cao, và khi hợp tác nhiều thì tự tạo ra sự tin tưởng hay làm giàu vốn xã hội. Chính sự tích lũy dần dần và chắc chắn của vốn xã hội trong mỗi cộng đồng tạo ra năng lực hợp tác, đối phó với rủi ro và tận dụng cơ hội mới.

Trong xã hội hiện đại, lòng tin xã hội được xây dựng từ hai nguồn, một là nguyên tắc “có đi có lại” và nguyên tắc mạng lưới dân sự. “Có đi có lại”, có nghĩa “tôi giúp bạn bây giờ với mong muốn là bạn sẽ giúp tôi trong tương lại”. “Có đi có lại” tạo ra một loạt các hành động mà về lâu dài tất cả các thành viên tham gia đều có lợi hơn. Nguyên tắc mạng lưới dân sự làm tăng chi phí cho những người phá hợp đồng trong các giao dịch đơn lẻ, vì thông tin này sẽ được truyền đi qua mạng lưới. Đây chính là lý do khuyến khích các hành vi có lợi cho mạng lưới, và trừng phạt các hành vi đi ngược lại lợi ích của mạng lưới.

Tuy nhiên, vốn xã hội có thể tích cực hoặc tiêu cực cho sự phát triển chung phụ thuộc vào các mục đích hợp tác khác nhau. Nếu các mạng lưới tập trung vào buôn lậu, buôn bán phụ nữ hoặc heroin, hoặc bảo kê những người buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh, thì vốn xã hội này ngăn cản chứ không đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Ngược lại, nếu các mạng lưới tổ chức xã hội tập trung vào bảo vệ môi trường, làm công việc thiện nguyện, trao đổi thông tin kinh doanh, hoặc bảo vệ quyền hợp pháp thì sẽ có ích cho xã hội.

Việc phát triển vốn xã hội theo hướng tích cực, hoặc tiêu cực phụ thuộc rất nhiều vào cách nhìn của nhà nước với xã hội dân sự nơi xảy ra các hoạt động tạo ra vốn xã hội. Nếu nhà nước muốn kiểm soát xã hội dân sự bằng luật hà khắc, thì các nhóm xã hội dân sự lành mạnh sẽ không phát triển được. Ngược lại, các nhóm mafia, buôn lậu hoặc tội phạm bảo kê thì hoạt động không cần luật pháp. Chính vì vậy, nếu nhà nước không tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội dân sự lành mạnh phát triển, đồng nghĩa tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho các tổ chức mafia, tội phạm, vì khi người dân không có các tổ chức dân sự lành mạnh bảo vệ mình, thì sức mạnh tương đối của các nhóm tội phạm, tiêu cực sẽ tăng lên.

Như vậy, để nhìn vào tiềm năng phát triển của quốc gia, ngoài các chỉ số về giáo dục và tài chính, chúng ta nên nhìn vào chỉ số liên quan đến vốn xã hội như niềm tin trong xã hội, nguyên tắc tôn trọng hợp đồng, và tự do của các tổ chức xã hội dân sự. Đây chính là dung môi nơi các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị diễn ra, và diễn ra như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn xã hội một quốc gia có.