Bình Lê: Tử tế từ mỗi người!

Chủ đề sống tử tế đang được nhiều người trong xã hội quan tâm. Đây là một điều tốt vì khi chúng ta thảo luận về sống tử tế, dừng lại để ngẫm nghĩ xem mình có sống tử tế, thì con người sẽ có ý thức hơn trong việc điều chỉnh hành vi của mình. Chắc không ai vỗ ngực nói rằng tôi là người tử tế, nhưng ai cũng có thể nói rằng tôi đang cố gắng để ngày càng sống tử tế hơn. Diễn Ngôn xin giới thiệu bài phỏng vấn nguyên bản của phóng viên Thế Kha với ông Lê Quang Bình về để tài sống tử tế và các hoạt động mà Viện iSEE đang tiến hành.

Bình Lê: Tử tế từ mỗi người!
Đến nơi phải cười trong đám tang

Đây là nội dung của một bài báo về đám tang của người Hmông ở huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái mới được đăng gần đây trên một số báo mạng. Cách đặt tiêu đề, nội dung và cách diễn giải của tác giả bài báo đã tạo ra sự phản ứng mạnh mẽ trong dư luận, đặc biệt là trong các cộng đồng người Hmông. Xuất phát từ quan điểm của người ngoài cuộc, tác giả của bài viết diễn giải rằng, khác với nhiều tộc người khác, trong đám tang, người Hmông “vui đùa, rượu thịt, nhảy múa, khèn ca tưng bừng ngay cạnh xác [người chết] như thể đang trong ngày hội.”

Đến nơi phải cười trong đám tang
Giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa của tục thách cưới

Thách cưới - phong tục gia đình cô dâu (đối với các nhóm mẫu hệ) hay gia đình chú rể (đối với các nhóm theo phụ hệ) phải đưa cho gia đình thông gia một số lượng tài sản có giá trị nào đó như là điều kiện để một cuộc hôn nhân có thể diễn ra - là một thực hành đã và đang tồn tại phổ biến ở nhiều nhóm tộc người thiểu số Việt Nam trước đây và hiện nay. Ví dụ, ở người Mnông, huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăc, trước đây, muốn cưới được chàng rể về nhà, gia đình nhà gái phải đem sang nhà trai một vài con trâu; ở người Ê-đê, xã Cư Huê, huyện Ea Kar, Đăk Lăk, để cưới được chàng rể về nhà, nhà gái phải đưa cho nhà trai 8 vòng tay và một cái bát bằng đồng, cúng cho bố mẹ vợ một con heo và cúng cho họ hàng gia đình bên chàng rể một con bò; nhiều nhóm người Dao có tục thách cưới bằng bạc trắng; hay các gia đình nhà gái người Chil ở Lâm Đồng phải ‘nộp’ cho nhà trai một số lượng lớn tài sản, bao gồm cả trâu và tiền mặt, vv.

Giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa của tục thách cưới
"Cái cuốc lạc hậu" và bài học về tri thức bản địa cho người Kinh

Trong một cuộc điền dã vào đầu năm 2013, một trưởng thôn người Kinh tại một huyện của tỉnh Gia Lai cho biết, khi mới di cư vào khu vực này sinh sống, hầu hết các hộ nông dân người Kinh đều có những nhận xét rất tiêu cực về cái cuốc ‘thô sơ’ của người Xơ-đăng, một công cụ lao động đã được người dân địa phương dùng hàng trăm năm để làm nương. Theo trưởng thôn, sở dĩ họ chê cái cuốc của người dân địa phương ‘lạc hậu’, hiệu quả lao động ‘thấp’ vì “so với cái cuốc mà người Kinh đem từ miền Bắc vào, nó nhọn và rất bé, năng suất lao động có khi chỉ bằng 1/10 cái cuốc của người Kinh”. Tuy nhiên, sau vụ rẫy đầu tiên, các hộ gia đình người Kinh đều phải công nhận rằng, cuốc của người địa phương phù hợp hơn và kết quả là các gia đình phải chuyển sang sử dụng ‘cái cuốc lạc hậu’ của người dân địa phương để làm rẫy.

"Cái cuốc lạc hậu" và bài học về tri thức bản địa cho người Kinh
Chọn vốn xã hội thay cho thị trường: duy lý hay phi lý?

Ở người Ra-glai, Bác Ái, Ninh Thuận hiện nay, khi có một lượng nông sản hay một sản vật nào đó, người dân ít khi bán cho người lạ hay ở các chợ trung tâm, mà thường dành đem về bán cho một chủ quán quen biết ở đầu làng hay những người mua bán hàng lưu động, cho dù giá bán ở đây có thể thấp hơn. Người dân cũng có thể sẵn sàng mua hàng từ một quán quen nào đó với giá đắt hơn các cửa hàng “lạ” khác.

Chọn vốn xã hội thay cho thị trường: duy lý hay phi lý?
Phi lý với người ngoài cuộc, hợp lý với người trong cuộc: bài học từ "vụ ba"

Theo tập quán lâu đời, người Thái ở Sơn La chỉ canh tác nhiều nhất là 2 vụ lúa trên các thửa ruộng của gia đình. Sau khi thu hoạch xong vụ hè thu (khoảng cuối tháng 9, đầu tháng 10 âm lịch), các thửa ruộng được bỏ hoá từ 3 đến 4 tháng trước khi được đưa vào canh tác vụ mới. Đối với các nhà kinh tế nông nghiệp địa phương, tập quán nông nghiệp này bị coi là thực hành gây ‘lãng phí đất’ và ‘lạc hậu’. Vì vậy, khoảng đầu những năm 2000, tham khảo mô hình nông nghiệp ‘hai lúa một màu’ được triển khai khá thành công ở nhiều địa phương vùng đồng bằng, chính quyền của một số huyện đã triển khai chương trình trồng ngô (được gọi là vụ ba) xen vào khoảng thời gian giữa vụ hè thu và đông xuân. Coi đây là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm có thể giúp người dân loại bỏ ‘tập quán cũ’ để ‘xoá đói giảm nghèo’, chính quyền địa phương đã thực hiện một chương trình tuyên truyền rầm rộ trên các phương tiện truyền thông và tại các cuộc họp bản.Tuy nhiên, ngược lại với sự mong đợi của chính quyền, nhiều gia đình đã tìm cách ‘không phải trồng ngô’ trên các thửa ruộng của gia đình.

Phi lý với người ngoài cuộc, hợp lý với người trong cuộc: bài học từ "vụ ba"
Canh tác nương rẫy: hiểu lầm và thực tế

Canh tác nương rẫy là một mô hình sản xuất nông nghiệp phổ biến của các tộc người thiểu số ở Việt Nam cũng như ở khu vực Đông Nam Á. Giống như ở nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Phi Líp Pin và Lào, ở Việt Nam, mô hình nông nghiệp này thường bị dán cho nhiều nhãn tiêu cực. Canh tác nương rẫy thường bị đánh giá là không kinh tế trong so sánh với mô hình canh tác lúa nước. Kỹ thuật phát đốt bị coi là hoạt động gây ảnh hưởng đến môi trường. Thêm vào đó, các cư dân canh tác nương rẫy thường được nhìn nhận là những cộng đồng ‘du canh du cư’, ‘nay đây mai đó’, xã hội không ổn định. Thậm chí, nhiều người còn coi canh tác nương rẫy như là một trong những ‘tàn dư’ của loại hình kinh tế ‘nguyên thuỷ’ nhất của loài người

Canh tác nương rẫy: hiểu lầm và thực tế
Văn hóa là cái ta có, nghĩ và làm!

Văn hoá, theo nghĩa rộng, là “tất cả những gì con người CÓ, con người NGHĨ và con người LÀM với tư cách là những thành viên của một xã hội”. Những gì con người có bao gồm các hiện vật vật chất như quần áo, trang phục, nhà cửa, công cụ sản xuất, các công trình kiến trúc, chùa chiền, đền, miếu, vv...Những gì con người nghĩ bao hàm các thành tố ‘ẩn’, nằm trong suy nghĩ của con người, như niềm tin tôn giáo, triết lý sống, thế giới quan, quan niệm thẩm mĩ, vv...). Những gì con người làm là các khuôn mẫu hành vi ứng xử mà chúng ta quan sát được như vái lạy, bắt tay, gật đầu, vv.

Văn hóa là cái ta có, nghĩ và làm!
Khuynh hướng “lãng mạn hóa” văn hóa miền núi

Cùng với xu hướng phủ lên văn hóa các tộc người một lớp sương mờ huyền bí nhằm cuốn hút trí tò mò của đọc giả, khuynh hướng “lãng mạn hóa” văn hóa các tộc người cũng chiếm một số lượng đáng kể trên các trang báo dưới dạng các phóng sự, ký sự, truyện ngắn và thơ ca. Dưới ngòi bút của các nhà báo, phong cảnh miền núi hiện ra hùng vỹ như những bức tranh thủy mặc đầy cuốn hút, trong đó có những sản vật mê hồn hiếm thấy, những món ngon độc đáo có một không hai, những không gian lý tưởng để thư giãn, những nét văn hóa độc đáo riêng biệt của những con người chân chất với vẻ đẹp nguyên sơ còn đang chờ được khám phá, v.v. Đọc những thông tin này, chúng ta như đang tưởng tượng ra hình ảnh một miền núi khác, không cổ hủ, lạc hậu, man rợ, cũng không có những nỗi đau, chỉ còn lại niềm vui hạnh phúc trong thú thưởng ngoạn và khám phá.

Khuynh hướng “lãng mạn hóa” văn hóa miền núi

Nhóm nghiên cứu thuộc Học viện Báo chí & Tuyên truyền và Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế & Môi trường (iSEE) đã tiến hành phân tích hình ảnh người dân tộc thiểu số được phản ánh trên một số tờ báo đại chúng. Báo cáo kết quả nghiên cứu của họ đã gợi lên khá nhiều vấn đề đáng để suy ngẫm. Đóng góp đáng kể của nhóm nghiên cứu này là đã cố gắng bằng phương pháp phân tích định lượng chỉ ra những biểu hiện, đặc điểm và mức độ định kiến của báo chí khi đưa tin, bài về các nhóm dân tộc thiểu số trong đó cách nhìn phổ biến là “tiêu cực nhiều hơn tích cực”.

Nuôi chó lấy thịt và cuộc chiến của các giá trị đạo đức

Cách đây hai năm tôi làm cán bộ địa phương trong một dự án tín dụng vi mô cho phụ nữ nông thôn nghèo. Dự án này có ý tưởng rất độc đáo. Mỗi tuần, chúng tôi tổ chức một tour du lịch cho một nhóm khách nước ngoài khoảng từ bảy đến mười người đến nhà một người phụ nữ chúng tôi đã chọn trước. Gọi là tour du lịch, nhưng đúng ra là một cuộc thăm viếng. Những người khách sẽ được trò chuyện cùng gia đình hay tham gia vào những hoạt động nông nghiệp như cho vịt ăn, tắm cho lợn, tuốt lúa, nhổ cỏ. Sau chuyến đi, người phụ nữ họ gặp hôm đó sẽ được nhận một khoản vay từ chính tiền tour của họ. Khoản vay này chị sẽ đầu tư cho một hoạt động nông nghiệp nào đó để cải thiện kinh tế gia đình. Nội dung tóm tắt - nhấp vào đây để sửa. Sau khi hoàn tất vui lòng nhấp vào nút Lưu ở góc trên bên trái màn hình.

Nuôi chó lấy thịt và cuộc chiến của các giá trị đạo đức
“Tiến hóa luận” dẫn Việt Nam tiến đi đâu?

“Tiến hóa luận” là quan điểm đã được sử dụng bởi các nhà khoa học xã hội từ các thế kỷ 18-19, cho rằng các xã hội đều phát triển từ thấp đến cao theo một thang đo cao thấp nhất định. Cách nhìn tiến hóa này thấm sâu trong đời sống xã hội của Việt Nam, và trong số 54 dân tộc đang sinh sống ở Việt Nam thì người Kinh được coi là ở mức thang cao nhất. Ví dụ, đối với người Kinh ở huyện Bác Ái, khác với người Chăm là những người ở trình độ phát triển cao hơn (gần bằng người Kinh, thậm chí nhiều người Chăm còn làm ăn giỏi giang hơn) thì người Raglai là những người vừa thoát khỏi cuộc sống du canh du cư “lạc hậu” và mới được tiếp xúc với người Kinh nên hiểu biết của họ không cao.

“Tiến hóa luận” dẫn Việt Nam tiến đi đâu?
Cần tiếp cận tổng thể trong bảo tồn tri thức địa phương

Sự đa dạng về văn hóa tộc người thể hiện ở sự đa dạng về ngôn ngữ, niềm tin, tri thức địa phương, về giá trị, đạo đức, nghệ thuật, phong tục, truyền thống, phương thức làm ăn, sinh kế, vv. Trong tất cả các khía cạnh đa dạng đó của văn hóa, có thể nói tri thức địa phương là nền tảng cơ bản – nguồn nuôi dưỡng cho sự phong phú và sức sống của một nền văn hóa. Bản thân tri thức địa phương đã bao hàm trong đó cả niềm tin, nhận thức của con người về xã hội, chứa đựng những giá trị truyền thống.

Cần tiếp cận tổng thể trong bảo tồn tri thức địa phương
“Cái lý” (cêr liv) "kéo vợ" (hei
pux) của người Hmông

"Kéo vợ”, thường xuất hiện trên truyền thông với cái tên “cướp vợ”, là một phong tục, hay nói theo ngôn ngữ người Hmông, là ‘cái lý’ (cêr liv) rất lâu đời của người Hmông ở các tỉnh phía Bắc của nước ta. Tục này đang được thực hành khá phổ biến trong đời sống hiện nay ở vùng Tây Bắc, đặc biệt là ở các cộng đồng người Hmông huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Như được phản ánh ở chính tên gọi, khi đến tuổi lấy vợ, các chàng trai Hmông sẽ đi tìm các cô gái mình thích để ‘kéo’ về nhà làm vợ. Sau khi đã chọn được người ưng ý, gia đình nhà trai sẽ tổ chức đi "kéo vợ” cho con mình. Một đoàn đi kéo vợ ít nhất phải có từ 3 đến 5 người. Thành viên của đoàn 'kéo vợ' thường là những người khỏe mạnh và biết cách không làm đau cô gái trong cuộc giằng co với gia đình bên nhà gái hoặc chính bản thân cô gái để đưa cô gái về nhà.

“Cái lý” (cêr liv) "kéo vợ" (hei
pux) của người Hmông
Hà Nội không quản được thì cấm

Tiếng nhạc xập xình vọng ra từ quán bar nơi khách ngồi tràn ra vỉa hè. Một đôi trai gái ôm nhau nhảy trên phố, chàng trai vẫn đeo chiếc ba lô trên lưng, cô gái vẫn khoác chiếc túi xách trên vai. Họ nhảy say xưa dưới ánh đèn đường mặc những khách du lịch dập dìu qua lại. Cuộc sống đêm của Hội An thật yên bình, vừa có tính địa phương vừa có tính toàn cầu. Có lẽ, Hội An nên được nhận danh hiệu “thành phố hòa bình” hoặc “thành phố văn hóa” cho xứng đáng với những gì nhân dân và chính quyền Hội An làm được.

Hà Nội không quản được thì cấm
Thần tượng, fan cuồng và sự thiên vị của truyền thông

Nếu các fan hâm mộ bóng đá xếp hàng từ sớm, ngồi lố nhố để đợi mua vé dưới trời nắng thì được ca ngợi là “tinh thần thể thao cao độ”; các bạn trẻ xếp hàng dưới mưa đợi thần tượng K-pop của mình, thì bị phê phán là “tôn sùng thần tượng mù quáng.” Những giọt nước mắt lăn trên má người hâm mộ khi đội bóng mình thua, thì được đánh giá là “giọt nước mắt của tình yêu”; còn nước mắt của fan K-pop thì được gọi là “những hành vi quái dị.” Cũng là thể hiện tình yêu với thần tượng mình, nhưng sao hai đội ngũ cổ động viên lại bị đối xử khác nhau?

Thần tượng, fan cuồng và sự thiên vị của truyền thông
Có biến mới sống, không biến là chết!

Việt Nam bị ảnh hưởng sâu rộng bởi văn hóa truyền thống của Trung Quốc, đặc biệt giới trí thức tinh hoa. Văn hóa Nho giáo coi lễ là cách quản lý gia đình và xã hội, nên sự phục tùng được đặt lên hàng đầu. Trong gia đình, con trái ý cha mẹ là con bất hiếu. Ở cấp quốc gia, quân trái ý vua là bất trung. Những hành vi này trở thành nền tảng giá trị đạo đức trong xã hội cũng như triết lý trong cai trị của nhà nước phong kiến. Trong quá khứ, khi cuộc sống nông nghiệp khá đơn giản, đồng nhất, thì lễ đã rất thành công trong sắp đặt xã hội và duy trì vai trò quản lý của nhà nước.

Có biến mới sống, không biến là chết!
Ái quốc, sùng ngoại và ly cafe Starbucks

Hồi 1990, tiệm McDonald’s mới mở ít lâu tại Moscow. Tôi còn nhớ, nó nằm ở đâu đó, dường như là giữa hai bến tàu điện ngầm Arbat và Smolensk. Nghe đồn đại là đông lắm, tôi có mò ra xem cho biết không khí thôi, vì món này đã có ở Hung nơi tôi sống từ lâu trước đó. Đến nơi, quả thật hàng người rồng rắn vài trăm mét, và không chỉ thanh niên, mà các ông bà trung niên, thậm chí cao niên cũng có mặt. Hàng lối nhìn chung cũng trật tự, và mặc dù chờ đợi rất lâu nhưng không thấy ai động thủ hay có biểu hiện gì quá khích.

Ái quốc, sùng ngoại và ly cafe Starbucks
Chó chỉ có Người làm bạn!

Không ngẫu nhiên mà người và chó làm bạn với nhau sau mấy chục ngàn năm lịch sử, trở thành tình bạn giữa hai loài động vật bền lâu nhất trong tự nhiên. Đó là cơ duyên của cả hai. Chó là hiện thân của những mơ ước của nhân phẩm và phẩm giá thuần khiết mà nhân loại ao ước: công bình (với chó không có chó đắt hay rẻ tiền, không có chủ sang hay hèn), luôn đối xử bình đẳng dựa trên tình yêu, gắn bó, trung thành và cống hiến vô vụ lợi.

Chó chỉ có Người làm bạn!
"Bụi đời chợ lớn" và quyền thưởng thức nghệ thuật của nhân dân

Có hai lý do Hội đồng kiểm duyệt phim truyện đưa ra để cấm chiếu phim Bụi đời chợ lớn, một là phim không phản ánh thực tế cuộc sống, cụ thể là việc các băng đảng chém giết nhau mà không có sự xuất hiện của lực lượng công an. Hai là phim quá bạo lực nên không tốt cho xã hội, có nghĩa nếu phim được công chiếu có thể dẫn đến việc bắt chước, và bạo lực sẽ tăng. Dường như lý do Hội đồng đưa ra là hợp lý (chiếu theo luật) và nhân văn (chống bạo lực trong xã hội). Tuy nhiên, tại sao vẫn có nhiều ý kiến trái chiều về quyết định này? Theo một điều tra của vnexpress, có đến 72% người trong hơn 10 nghìn người tham gia trả lời muốn phim được chiếu với bản gốc, chỉ cần giới hạn độ tuổi.

"Bụi đời chợ lớn" và quyền thưởng thức nghệ thuật của nhân dân